Tuồng KVK

.

Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Kiều cùng Kim Trọng đã soạn một lời thề kết nghĩa vợ chồng:

Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi
Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song

.
Người đọc hiểu rằng, hai người đã viết một tờ thề nguyền, dùng một dao cùng cắt tóc và trao tóc cho nhau để làm tin. Khấn nguyện trời đất chứng giám . Tất nhiên người đọc tuy không rõ văn bản viết gì, nhưng cũng đã ngầm hiểu nội dung không cần nói dài dòng.
Thơ là như vậy, nhưng khi diễn trên sân khấu, thì phải diễn cảnh, kèm lời nói cho sinh động hơn. Văn viết cũng vậy, cần miêu tả hành động , đối đáp, cảnh vật…. theo đặc trưng của thể loại.
Người phóng tác có thể tự nghĩ ra một nội dung lời thề miễn là hợp lý, không trái với ý thơ thì được. Nhưng nếu 2 người phóng tác độc lập thì nội dung hình thức khác nhau, còn nếu giống hệt nhau về nội dung lẫn hình thức, thì một người đã tham khảo người viết trước. Chúng tôi đối chiếu 3 tác phẩm Tuồng Lãm Thuý Hiên (Tuồng Kim Vân Kiều) với Cuốn A953 Kim Vân Kiều Truyện ở Việt Nam và cuốn Kim Vân Kiều Truyện của Tầu về bản thề nguyền này.

.
Lãm Thuý Hiên: (1875)

Thệ văn:
Phu phụ thượng nghĩa, nghĩa trọng chung thân bất di
Nhi nữ đa tình, tình thiết cổ kim vô phụ
Kiều nguyện hữu gia
Kim nguyện hữu thất
Liên tài ái sắc
Thân kết vu đồng tâm
Trọng lự kỳ thủy
Kiều lự kỳ chung
Lịch phủ khuynh tâm
Cẩm hàn minh vu dị Nhật
Nam kỳ cửu phi vô biến
Nữ nguyện nhất tiết chung thân
Cẩu dư thủ minh
Thần nhân cộng giám.

.
Kim Vân Kiều Truyện A953- Thanh Tâm Tài Tử ( 1902)

Minh Viết:
Đồng tâm Kim Trọng Vương Thuý Kiều mỗ niên.. mỗ nguyệt …mỗ nhật ..mỗ thì sinh. Cẩn dĩ tâm hương nhất trụ, thuỷ lễ nhất chi, Đinh minh vu cao thiên hậu địa chỉ linh:
Thiết văn:
Phu phụ thượng nghĩa, nghĩa tại chung thân bất đi
Nhi nữ đa tình, tình tại tử sinh vô phụ
Tiền thì:
Kiều nguyện hữu gia , Trọng nguyện hữu thất. Liên tài mộ sắc, dĩ thâm kết hồ đồng tâm.
Kim nhật:
Trọng lự kỳ thủy, Kiều lự kỳ chung
Lịch đảm khuynh tâm, cảm ngôn mình vu dị Nhật
Tự minh chị hậu:
Nam ký cửu tử vô biến, nữ thệ nhất tiết chung thân, túng ngoại lai chị biến hoặc hữu bất trắc?. Tắc ngộ tâm vĩnh thỉ, đoán hồ nhất định, cẩu du thử minh, thần thiên cộng giám.

.
Bản Minh Kim Vân Kiều truyện Thanh Tam Tài Nhân, Trung Quốc, 1983.

.

Bài Mình thệ chữ Hán trong cuốn KVKT của Tàu 1983.
Ảnh: Bài Mình thệ chữ Hán trong cuốn Kim Vân Kiều Truyện của Tàu 1983.
( Nhà Hán Nôm Lâm Thanh Sơn vừa đưa ra bản Minh Thệ từ cuốn Kim Vân Kiều Truyện mà Tàu nói phát hiện năm 1983, Lý Trí Trung hiệu đính)

.
Phiên âm:
(Lâm Thanh Sơn phiên âm)
‘’Đồng tâm nhân Kim Trọng, Vương Thuý Kiều . Mỗ… niên , mỗ… nguyệt, mỗ… nhật, mỗ thời…. sinh, cẩn tâm hương nhất chú, thủy lễ nhất chi, đính minh vu cao thiên hậu địa chi linh.
Thiết văn phu phụ thượng nghĩa, nghĩa tại chung thân bất di. Nhi nữ đa tình, tình thiết tử sinh vô phụ. Tiền thời Kiều nguyện hữu gia , ( Kim ) Trọng hữu thất, lân tài mộ sắc, dĩ thâm kết hồ đồng tâm, kim nhật ( Kim ) Trọng lự kỳ thủy. Kiều lự kỳ chung, lịch đảm khuynh tâm, thủ tín minh vu dị nhật. Tự minh chi hậu, nam kỳ cửu tử mĩ biến, nữ trích nhất tiền chung sinh. Túng ngoại lai chi minh, hoặc hữu bất trắc, nhi ngô tâm chi yểu đoạn hồ nhất định. Cẩu du kỳ minh, thần Thiên cộng cức‘’.

Dịch nghĩa:
Hai người là Kim Trọng và Vương Thuý Kiều vào giờ… ngày….tháng… năm…
Kính cẩn dâng một nén tâm hương cùng chung rượu lễ, làm lễ đính ước trước anh linh trời cao đất dày chứng giám.
Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng chuộng nghĩa, nghĩa ấy tại thân là không thể đổi thay. Nhi nữ đa tình, tình ấy còn mãi. Dù có thế nào cũng không bao giờ phụ bạc.
Trước là Kiều muốn nghi gia, Kim Trọng mong thành gia thất. Bởi thương tài mến sắc, nên đã kết mối đồng tâm, giờ đây Kim Trọng lo lúc trước, Kiều nghĩ đến mai sau mà trải mật phơi tim thề nguyện. Trai dù có phải chín lần chết cũng chẳng thay lòng. Nữ nguyện một đời một dạ không thay. Dù có gặp tai biến khôn lường , cũng không ai phai nhạt, giữ lời nguyện ước này.
Nếu đổi thay, sẽ bị Trời và thần linh tận diệt.
(Lâm Thanh Sơn dịch, đêm 8/8/2021 )
.
******
Chúng tôi chỉ đưa ra một bản dịch vì 3 bản nội dung chính giống nhau như đúc.
Rõ ràng là cuốn ra đời sau 1983 ở Tàu đạo văn cuốn năm 1902 Kim Vân Kiều Truyện và Kim Vân Kiều truyện 1902 đã đạo văn Tuồng Lãm Thuý Hiên in năm 1875. Một cuốn sách gọi là đạo văn vì nó đã không giới thiệu nguồn gốc mà nó mượn.
Cuốn phóng tác thì nói rõ nguồn gốc. Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu các chi tiết “ chôm” trong các bài sau.
Nhưng đến đây có người hỏi vặn: Có khi nào cả Nguyễn Du và Nguỵ Khắc Đản đã đọc Kim Vân Kiều Truyện rồi một người chuyển thành thơ và người sau chuyển thành Tuồng không?
Câu trả lời là : chúng tôi căn cứ vào năm in trên sách , hoặc năm công chúng thấy được.
Đó là bằng chứng khách quan. Tuồng in 55 năm sau Nguyễn Du mất, KVKT A953 Thanh Tâm Tài Tử thấy được 77 năm sau Cụ Nguyễn mất. Cuốn của Tàu thấy được sau cụ Tố Như quy tiên 163 năm,
Nguyễn Du đã tự khai là ông đọc lục phong tình ( khoảng 1000 chữ). Ngụy khắc Đản thì mỗi phân đoạn tuồng nêu một câu thơ trong Đoạn Trường Tân Thanh, tức đã nêu xuất xứ: Người cầm bút tự trọng.
Cuốn Kim Vân Kiều A953 và cuốn của Tàu chẳng những ra sau 2 cuốn trên mà lại còn không ghi xuất xứ, kết luận: đạo văn.
Ai đó nói Nguyễn Du và Nguỵ Khắc Đản đã đọc Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thì hãy đưa bằng chứng. Nên nhớ rằng bằng chứng chứ không phải nghe ông A, ông B nói suông. Còn không đưa được thì chỉ là niềm tin phi khoa học và đã phi khoa học thì đừng đưa vào dạy trong sách giáo khoa.
.
Lê Nghị

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Nguyễn Du)