Nguyên Lạc

Diogenes

Diogenes và Alexander Đại Đế

.

TRÍ THỨC và TRI THỨC

Trước hết xin được bàn về Trí thức và Tri thức

1. Trí thức và Tri thức

Trí thức khác với Tri thức
Knowledge (noun): tri thức, sự hiểu biết, sự thông hiểu
Intellectual (noun): người trí thức, nhà học giả; (adjective) tinh thần, thuộc về lý trí, trí năng
.
– Tri thức: knowledge – chỉ biết thôi
– Trí thức: Intellectual – biết, phán đoán và hành xử – (bao gồm chữ wise – minh triết).

2. Những người như thế nào gọi là Trí thức?

– Trí thức trong đó có Trí- là sáng suốt, có nghĩa là điều hiểu biết được suy nghĩ cẩn thận rồi HÀNH. Nếu học biết, thông hiểu mà không HÀNH thì không phải là Trí thức/Intellectual, mà chỉ là Tri thức/Knowledge.
HÀNH có thể theo phương cách tốt, xấu: thường là tốt với Trí thức, còn nếu xấu thì không gọi là Trí thức. Cách HÀNH XỬ của ông Diogenes- trong phần dưới- đích thực là Trí Thức- Trí Thức “thứ thiệt”
– Trong xã hội Á đông, “trí thức” tức là “Sĩ”- “kẻ sĩ”: chỉ chung những người chủ yếu lao động bằng trí óc.
Cũng có ý kiến cho rằng: Vì đặc điểm của “trí thức” là lao động trí óc như nói trên, nên “trí thức” bao gồm cả những người ở tầng lớp thống trị.
Thời quân chủ, chữ Hán gọi “trí thức” là “sĩ” 士, nhưng cũng gọi “quan” là “sĩ”, có điều chữ viết khác nhau một chút: Quan – “仕” (thêm bộ nhân đứng một bên). Cho nên “trí thức” và “quan” không xa nhau, thường nhập chung: Trí thức/ nho sĩ thi đậu thì làm quan.̣ (Thời nay không cần thi đậu cũng làm quan, nếu … có cần nói thêm không?- NL). Mạnh Tử gọi tầng lớp quan lại là người “lao tâm” còn người dân lao động là “lao lực” từ đó cho rằng “người lao tâm cai trị người khác, còn người lao lực thì bị người khác cai trị” (Lao tâm giả trị nhân, lao lực giả trị ư nhân – Mạnh Tử, Đằng Văn Công thượng).
.
– Về tri thức và trí thức xin mời các bạn đọc lời của Leo Tolstoy trích từ bài viết Lời Vàng Tiếng Ngọc của tôi:
– It is better to know several basic rules of life than to study many unnecessary science. The major rules of life will stop you from evil and show you the good path in life, but the knowledge of many unnecessing science may lead you into the temptation of pride, and stop you from understanding the basic rules of life. (Leo Tolstoy)
(Biết vài nguyên tắc căn bản của cuộc sống tốt hơn là học chi nhiều môn khoa học không cần thiết. Những nguyên tắc chánh của cuộc sống sẽ ngăn bạn làm điều ác và giúp bạn đi theo chánh đạo, nhưng sự hiểu biết (Tri Thức) nhiều khoa học không cần thiết có thể dẫn bạn đi vào sự cám dỗ của lòng kiêu ngạo và khiến bạn không hiểu được những nguyên tắc sống căn bản)- (Nguyên Lạc chuyển ngữ)
.

3. Trích đoạn về Trí thức

Về Trí Thức, mời độc giả đọc các trích đoạn sau:

a.
– Phải nói thẳng một cách sòng phẳng như thế này. Trong lịch sử nhân loại chưa có một chế độ độc tài nào lại tôn trọng trí thức. Độc tài và trí thức không khác gì lửa và nước. Tần Thủy Hoàng từng ra lệnh đốt Kinh Thi và Kinh Thư, chôn sống hơn 460 Nho sĩ. Sa Hoàng Nikolai Đệ Nhị từng căm ghét trí thức đến nỗi muốn loại bỏ từ “trí thức” khỏi từ vựng của tiếng Nga: “Trí thức là một từ ghê tởm,” ông ta nói. Nhà độc tài kế tiếp ông, lãnh tụ cộng sản Lenin còn tiến một bước xa hơn khi đã không ngần ngại sử dụng một trong những từ thiếu sạch sẽ nhất để gán cho trí thức: Lenin gọi trí thức là cứt. Trong thư gửi Maxim Gorky ngày 15/9/1919, Lenin viết: “Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức – đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là cứt.”
– Từ intellectuals trong tiếng Anh, thường được dùng chủ yếu để chỉ những người có nghề nghiệp chuyên môn trong các lĩnh vực lao động trí tuệ nhằm phân biệt họ với những người lao động chân tay.
– Khái niệm trí thức (интеллигенция) trong tiếng Nga được dùng cho tầng lớp của những người không đơn thuần chỉ có học và lao động trí óc, mà còn phải có tư duy phê phán, phải gánh vác những lý tưởng cao cả.
.
b. Xin giới thiệu một người trí thức: Diogenes

Tương truyền, trong một lần thuyết giảng, triết gia cổ Hy Lạp Plato đã định nghĩa “con người là một động vật đi bằng hai chân và không có lông vũ.” Diogenes – một triết gia cổ Hy Lạp khác – nghe vậy bèn bắt một con gà, vặt sạch lông, thả vào giảng đường, rồi nói: “Các người hãy nhìn kìa, đó là Con Người theo định nghĩa của Plato!” Nghe nói Plato sau đó đã phải thêm “có móng rộng và bẹt” vào định nghĩa “Con Người” của mình.
Diogenes từng xách đèn đi ngoài phố giữa ban ngày. Khi được hỏi làm gì đấy, ông trả lời: “Tôi đi tìm một người lương thiện.” Tương truyền ông chỉ gặp toàn bọn bất lương và vô lại.
.
Theo sử gia Plutarch, khi Alexander Đại Đế tới Corinth, những người đứng đầu thành phố và các triết gia đã lũ lượt kéo nhau tới yết kiến Alexander, chỉ riêng Diogenes vắng mặt. Alexander bèn đích thân đi tìm Diogenes, và thấy ông này đang nằm dài sưởi nắng bên cái thùng ông dùng làm chỗ ngủ. Khi Alexander Đại Đế hỏi: “Hỡi nhà hiền triết, ngươi có muốn ta làm gì giúp ngươi không?”, Diogenes đã trả lời: “Ngài hãy đứng tránh sang một bên để khỏi che lấp ánh mặt trời của tôi.” Các triết gia và đám tùy tùng của Alexander Đại Đế nghe vậy cười phá lên, trong khi chính Alexander Đại Đế nói: “Nếu ta không phải là Alexander thì ta đã là Diogenes.” (*)
.

UY VŨ BẤT NĂNG KHUẤT

.
Xin được giới thiệu một người mà tôi cho là Kẻ sĩ: Phạm Đức Nhì, người xem sinh mạng mình nhẹ tợ lông hồng- uy vũ bất năng khuất.
Trước khi vào phần chính, tôi xin có vài lời:
Phạm Đức Nhì – FB Nhi Pham: nhà bình thơ và cũng là thi sĩ – là bạn tôi; tôi nễ phục anh về sự can đảm; tuy nhiên, về văn chương, chúng tôi có những quan niệm khác nhau.
Giờ mời các bạn đọc về anh.
.
[… Trưởng trại tù Xuân Phước lúc đó là Thượng Tá Thân Yên. Chúng tôi được Thân Yên và một dàn cán bộ “đón tiếp” với một bài chửi rủa và đe dọa: “Ðến đây thì lo cải tạo đi, đừng có mơ tưởng” (mơ tưởng làm loạn và mơ tưởng ngày về như chúng tôi được biết sau này).
Sau khi Thân Yên nói chuyện xong thì đến viên cán bộ an an ninh trại là Lý “lé” người Nghệ An lên diễn đàn. Anh ta trình bày nội qui trại và cuối cùng anh ta nói thẳng: “Các anh đã thấy, các anh là không phải là tù nhân. Nhà nước chỉ tạm giữ các anh để bảo vệ an ninh cho các anh vì nếu để các anh ở ngoài, nhân dân họ đòi nợ máu họ sẽ giết các anh. Các anh thấy không, trại này vườn rau ao cá đàng hoàng. Ðời sẽ rất đáng sống nếu các anh hối lỗi và cải tạo tốt”.
Màn sau cùng trước khi chúng tôi bị kiểm tra là một màn ca hát có tính chất bắt buộc. Viên cán bộ giáo dục lên diễn đàn và anh ta hỏi: “Có anh nào biết hát không, hát vài bài để lên tinh thần. Sao, cải tạo đến năm nay mà không biết hát à”. Cả hội trường im lặng. Anh ta liền đe dọa: “Sao không hát à, chưa an tâm cải tạo. Này không hát là không được với tôi đâu. Không hát nhạc cách mạng tức là chưa an tâm cải tạo”. Lại một vài phút yên lặng, căng thẳng. Bỗng ngồi ở hàng đầu có một người tù đứng lên. Anh còn rất trẻ và xưng tên là Phạm Ðức Nhì. (Sau này tôi được biết Nhì là thiếu úy, sĩ quan tâm lý chiến. Hiện nay Nhì định cư ở Galveston, Texas, đi học lại đại học nhưng vẫn làm nghề bắt cua, chế biến tôm).
Nhì quay xuống chúng tôi và nói: “Nào tôi bắt nhịp để chúng ta hát một bài mừng cán bộ”. Mới nghe, chúng tôi đã chửi thầm trong bụng. Nhì lại nói tiếp: “Chắc các anh biết là ở trại cũ, chúng ta đang được học hát một bản nhạc của Cuba thời cách mạng Che Guavera. Nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang đã viết thành lời Việt. Bây giờ tôi sẽ bắt nhịp các bạn vừa hát vừa vỗ tay. Lời Việt của bài nhạc có tên rất hay: “Việt Nam Quê Hương (Ta) Ngạo Nghễ ”.
Chúng tôi nhìn nhau. Mặt mọi người sáng lên. Nhì thêm chữ “Ta” vào bản “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” để cho bọn cán bộ không nghi ngờ bởi vì Nhì hiểu rằng, bọn cán bộ Cộng Sản rất thích chữ “ta”, chữ “mình” dính vào chữ quê hương. Tại những trại trước, phần lớn những đêm tù ca, chúng tôi đều khởi đầu với bài “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ”. Nhì là sĩ quan tâm lý chiến nên trong những đêm tù ca, anh thường khởi đầu với bài này, sau đó là tù ca và kết thúc bằng bài “Hy Vọng Ðã Vươn Lên”. Nhì bắt đầu:
“Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn”
Khi Phạm Ðức Nhì vừa nói: “Hai, ba” là lập tức gần một ngàn tù nhân chúng tôi trong hội trường vỗ tay theo nhịp và hát vang lừng:

“Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn
Ðường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang.
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm.
Ðôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang.
Ta khua xích kêu vang dậy trước mắt mọi người.
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi.
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi…”

(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ – Nguyễn Ðức Quang)

Chưa bao giờ trong cuộc đời tôi thấy một bài đồng ca lại được hát hăng hái, hùng dũng và ngạo nghễ như lúc đó. Chúng tôi thỉnh thoảng liếc nhìn nhau. Có những nụ cười và cũng có nước mắt hoen mi. Mọi người dường như cố gắng hát to và vỗ nhịp thật lớn.
Buổi hát nhạc chiến đấu này không làm cho bọn cán bộ trại giam nghi ngờ, nhưng hơn một năm sau, khi Phạm Ðức Nhì vào cùm vì tuyệt thực không ăn để phản đối chế độ lao tù hà khắc ở đây, Lý “lé” đem bài hát này vặn hỏi Nhì; có lẽ vì do ăng ten báo cáo. Nhưng buổi hát nhạc chiến đấu của phe ta ngay trước mặt Ban Ðiều Hành một trại giam khét tiếng tàn ác là một kỷ niệm lớn nhất trong đời tù của chúng tôi…] (Nhà báo Vũ Ánh)
.
Nguyên Lạc
……………………
(*) Trí thức – Nguyễn Đình Đăng
https://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do…

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Nguyễn Du)

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s