đàn Nguyệt

.

TÂM HỒN VIỆT QUA CHỦ ĐỀ VÀ NHÂN VẬT TRUYỆN KIỀU.
I.Vài Phác Thảo về chủ đề truyện Kiều
II. Phân tích các nhân vật truyện Kiều với góc nhìn: nhân vật là người Việt
1.Kim Trọng:
2.Thúc sinh:
3.Từ Hải
4. Những nhân vật đàn ông phản diện và Hồ Tôn Hiến.
5.Thúy Vân.
6.Hoạn Thư
7.Đạm Tiên và người khách viễn phương
8 .Giác Duyên và Tam Hợp
( đã đăng)


****


9. Nhân vật chính: Thúy Kiều


Như phần mở đầu Chương II này, tôi có nói để phân tích nhân vật tôi đi theo phương pháp qui nạp: từ nhân vật phụ đến nhân vật chính. Vì vậy tới phần nhân vật chính không cần phải nói nhiều. Bởi vì nhân vật chính Kiều đã nhiều người phân tích. Lẽ thứ hai, vì khi phân tích nhân vật ta chú trọng 2 đặc điểm họ ghét gì và thích gì. Các gương mặt phụ đã hiện ra thì chỉ cần xét nhân vật chính yêu hoặc ghét nhân vật phụ nào tất nhiên sẽ hiểu đủ tính cách nhân vật chính. Có một danh ngôn: Bạn hãy nói với tôi bạn chơi với ai, tôi sẽ nói bạn là người thế nào.
Tuy nhiên có hai vấn đề cần làm rõ: Kiều với tư cách là nhân vật tiểu thuyết và Kiều là nhân vật Tố Như gửi gắm tâm sự. Nhân vật tiểu thuyết không phải là nhân vật lịch sử, trong đó sự xuất hiện các nhân vật phụ nằm ngoài ý muốn của tác giả. Tác giả phải trình bày cho người đọc thấy hành vi của các nhân vật có phù hợp với xu thế lịch sử hay không, tác giả không thể gửi gắm tâm sự của mình vào nhân vật lịch sử.
Còn nhân vật tiểu thuyết là con đẻ của tác giả, là công cụ để tác giả trình bày suy nghĩ và tình cảm, thái độ của mình. Nhân vật tiểu thuyết nằm dưới sự lèo lái của tác giả. Cho nên các nhân vật phụ xuất hiện đều nằm trong ý đồ của tác giả. Người đọc tự khám phá từng nơi, từng lúc tác giả muốn nói gì qua nhân vật, mối quan hệ chính- phụ và phụ-phụ. Qua nhân vật tiểu thuyết tác giả có thể gửi gắm tâm sự của mình.Vì Nguyễn Du có mượn một khúc Minh sử nên cần phân biệt chỗ nào là chính sử, chỗ nào là dã sử nửa thật nửa hư và chỗ nào là thuần tiểu thuyết.
A. Kiều với tư cách nhân vật tiểu thuyết.
Nói đến nhân cách Kiều, trong hành xử với gia đình, ai cũng không thể bỏ qua chữ hiếu. Chữ hiếu bao gồm công ơn cha mẹ lẫn yêu thương anh em. Kiều bán mình cũng vì chữ hiếu:
Thà rằng liều một thân con
Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây.
Trong thời gian xa nhà Kiều luôn lo lắng cho cha mẹ hao mòn sức khỏe thương nhớ con, và không biết cha mẹ già yếu có được chăm sóc chu đáo không, đó là hiếu:
Đoái trông muôn dặm tử phần
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa
Xót thay xuân cỗi huyên già
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi
Chốc đà mười mấy năm trời
Còn ra khi đã da mồi tóc sương.
Kể cả khi tái đoàn tụ, tu tại gia theo lời Vương ông thay vì ở chùa cũng vì chữ hiếu:
Phải điều cầu Phật cầu tiên
Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây?
Trong 3 người đàn ông mà Kiều yêu: Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải mỗi người có hoàn cảnh và tính cách khác nhau nhưng có một điểm chung: Trọng tình nghĩa. Thúy Vân và Hoạn Thư cùng một điểm hôn nhân do người khác sắp xếp và tính thủy chung. Như vậy có thể tóm tắt trước hết Kiều trọng: Hiếu- Tình- Trung. Trung ở đây nghĩa chính là trung thành, trước sau như một thường gọi là thủy chung. Về cơ bản nhân cách trên của Thúy Kiều được xưa nay nhiều người đồng thuận. Sự đồng thuận đó bắt nguồn từ định hướng tư tưởng trong tổng thuyết của Minh Mạng. Tư tưởng này đã đóng khung tư duy các nhà Kiều học đến nay.
Riêng về chữ Trung, các nhà nho đã tán Kiều trung với vua là có phần gượng ép dựa vào Kiều thuyết Từ Hải hàng: “ Rằng ơn thánh đế dồi dào, tưới ra đã khắp thấm vào đã lâu. Bình thành công đức bấy lâu, ai ai cũng đội trên đầu xiết bao”. Thật ra, các vị đã không chú ý trong 187 câu tái hiện lại lịch sử nhà Minh thì chỉ có đoạn 65 câu từ: “ Có quan tổng đốc trọng thần….Đang khi bất ý chẳng ngờ, hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” là đúng với chính sử. Cần phải hiểu đoạn này Kiều và Từ Hải là bà Mã Kiều kỹ nữ Lâm Tri và Từ Hải giặc biển chính sử ở Trung Hoa. 122 câu tiếp theo là nửa thật nửa hư cấu, đoạn: “ Tử sinh liều giữa trận tiền…Thì đà ngọc đắm chìm hương mất rồi”, lúc này Kiều và Từ Hải mới là nhân vật tiểu thuyết. Phân biệt nhân vật chính sử và tiểu thuyết là chỗ đó. Bà Mã Kiều có thể trung với vua, nhưng không dính tới tính cách của nàng Kiều tiểu thuyết. 65 câu mượn chính sử chỉ là cầu nối cho quảng đường lưu lạc bước vào chỗ chết. Cũng như dựa vào câu :” Nghĩ từ dấy việc binh đao, đống xương vô định đã cao bằng đầu” mà nhấn mạnh rằng Thúy Kiều nhân đạo là có phần nói quá. Bởi vì chán ghét chiến tranh là tâm lý của tuyệt đại dân chúng chứ không phải riêng Kiều. Thêm vào đó ta thấy Kiều chưa từng giúp ai ngoài gia đình mình. Nàng chịu ơn từ người khác và chỉ đền ơn. Thiết nghĩ nên xem Kiều là người bình thường chứ không phải là bậc hiền nhân mới phù hợp tính cách của Kiều.
Tính nhân đạo của Kiều tiểu thuyết nằm trong câu của Tam Hợp: “Hại một người cứu muôn người.” Không phải bà nói Kiều hại Từ Hải cứu muôn dân. Mà muốn nói Kiều trừng trị bọn gian ác: Mã, Sở, Tú, Bạc,Ưng, Khuyển thì cứu được nhiều người rơi vào hoàn cảnh bất hạnh. Đó là hành vi cố ý trừng phạt của Kiều mới gieo nhân tốt. Cho dù trong bà Mã Kiều có bóng dáng Thúy Kiều đi nữa, không thể kết tội hai người đó hại Từ Hải. Người hại là Hồ Tôn Hiến, với một viên quan khác có thể Từ không chết. Mã Kiều chỉ muốn tốt cho Từ Hải. Xét về Phật học, Như Lai bảo tác ý tạo nghiệp. Trong cái chết của Từ Hải, Mã Kiều được xem là không tác ý. Hơn nữa cần phân biệt tính nhân đạo của tác phẩm khác với một nhân vật trong tác phẩm tỏ lòng thương đồng loại.
Ngoài những phẩm cách trên, cần bổ sung những điểm khác ở Kiều. Kèm nhan sắc vượt trội, Kiều thông minh, ăn nói sắc sảo nhưng không ngụy biện, tuy có một lần nói dối để bảo vệ mình nhưng không hại ai. Kiều nể Hoạn Thư là biết tôn trọng lẽ phải, kính Giác Duyên ngoài việc nhớ ơn còn trọng người có tri thức. Đối với các nhân vật Kiều ghét: Mã Giám, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến và đám lầu xanh, côn đồ là mặt thất đức của xã hội. Điểm chung của chúng là dối trá và tàn ác. Những việc này ai cũng thấy rõ. Tóm lại: Hiếu, trọng nghĩa tình, thủy chung, tôn trọng lẽ phải, chuộng thiện ghét ác, trọng tri thức, thông minh và nhạy cảm là những phẩm hạnh của Kiều nhưng chưa phải là nét riêng.
Nét riêng của Kiều là tấm lòng trinh bạch. Đây cũng là tranh luận lớn nhất từ trước đến nay của người đọc, xoay quanh chữ Trinh của Kiều. Trước hết Kiều có tính đa tình, lẳng lơ không? Các nhà nho cố cựu đã nhìn Kiều là người bản chất trái với luân thường Khổng Mạnh, không thể đem chữ hiếu mà lấp tính tà dâm. Trước hết là Kiều tỏ tình trước bằng cách dắt thoa lên cành đào báo hiệu cho Kim Trọng.Tiếp đến Kiều chủ động qua nhà Kim Trọng bày tiệc rượu. Không kể việc đời kỹ nữ phải chìu khách, Kiều mất tình đầu, quay ra yêu Thúc sinh không thành, tiếp đến là Từ Hải, rồi lại đàn cho Hồ Tôn Hiến nghe.
Thế hệ có thể gọi là đương thời Nguyễn Du, Phạm Quý Thích, Mộng Liên Đường người chê Kiều đầu tiên có Châu Doãn Trí. Ông đã mỉa mai, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng quan điểm nên dịch bài thơ của ông có phần tô đậm hơn:
Thanh Lâu đáo xứ giai Kim Trọng
Hồng Phấn tàn thời hữu thổ quan
(Lầu xanh đâu cũng là Kim Trọng
Phấn lợt còn lưu bác thổ quan)
Cụ Châu Doãn Trí còn ngầm chê trách những người Thăng Long, từ quan đến dân quá say mê Truyện Kiều:
Chỉ quái Tân Thanh truyền Nhạc phủ
Chí kim ca xướng mãn Tràng An.
( Một khúc Tân Thanh truyền Nhạc phủ
Đến nay đàn hát khắp Tràng An)
Thế hệ Nguyễn Công Trứ kết án khắc khe:
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm.
Đến Nguyễn Khuyến cũng còn phê phán, tuy có nhẹ nhàng:
Đôi hàng nước mắt đôi làn sóng
Nửa đám ma chồng nửa tiệc quan.
Các nhà nho thủ cựu còn tung ra câu vè:” Đàn ông chớ đọc Phan Trần. Đàn bà chớ đọc Thúy Vân, Thúy Kiều. Các vị đã xếp Truyện Kiều vào hàng dâm thư, tục nhạc, xếp người mê Truyện Kiều ngang với các tay cờ bạc: “ Mê gì như mê tổ tôm, mê ngựa Thượng Tứ mê Nôm Thúy Kiều!”.
Tuy nhiên ta thấy rằng ngay trong đêm Kiều qua nhà Kim Trọng thề hẹn, hai bên đàn hát và uống rượu, Kim Trọng đã không kìm hãm:
Sóng tình dường đã xiêu xiêu
Nghe trong âu yếm có chiều lả lơi.
Kiều đã ngăn lại:
Đã cho vào bậc bố kinh
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu
Ra tuồng trên bộc trong dâu
Thì con người ấy ai cầu làm chi.
Bố kinh là nói phận gái ăn ở phải đạo, trên bộc trong dâu là trò hò hẹn mèo mã gà đồng. Nàng đem sách vở ra thuyết một mạch khiến chàng nho sinh càng thêm nể vì, chứng tỏ nàng là con nhà gia giáo. Khi Hồ Tôn Hiến ngõ ý giao hoan nàng từ chối: “ Trong mình nghĩ đã có người thác oan”. Thật đúng đạo lý, tang chồng vừa mới để. Người tà dâm mà hành xử như vậy sao? Nổi bật nhất là đến khi đoàn tụ, nên duyên chồng vợ với Kim Trọng nàng đã từ chối cùng gối chăn. Các vị thủ cựu đã bỏ qua 3 tình tiết quan trọng đó mà lập luận là khiên cưỡng, giáo điều.
Ở đâu và thời nào cũng vậy, các cụ thừa biết trung bình nữ thập tam nam thập lục là lứa tuổi dậy thì. Trong khi các nàng đã biết liếc mắt thẹn thùng với các anh thì các cậu trai cùng lứa tuổi còn ngây ngô, cởi trần chạy nhảy. Đa số trường hợp tuổi thanh niên dưới 22 tuổi, gái mà không tỏ dấu hiệu trước thì các chàng không dám ngỏ lời. Ngòi bút Nguyễn Du tả thực nên mới phù hợp tâm lý nhiều người. Xét về mặt quan điểm thì ông đi trước thời đại, hoặc là thời đại ông đã manh nha ý tưởng bình đẳng nam nữ, ông là người mạnh dạn cầm bút nói hộ .
Tiếp đến chữ Trinh trong truyện Kiều rất khác lạ với quan niệm phong kiến. Đối với người Hoa, đến nay có người còn mê tín rằng chiếm hữu thể xác người trinh trắng là đem lại may mắn tài lộc. Chính vì vậy Tú bà lấy cớ la trời lổ vốn, cho thấy chữ trinh bán lần đầu thì giá cao tới cở nào. ( tất nhiên là kỹ viện có cách để lừa khách). Xã hội đông phương từ lâu quan niệm trinh trắng là chưa từng chăn gối với ai như định nghĩa của y học, ngày nay vẫn xem đó là tiêu chuẩn quý của người nữ trước khi về nhà chồng, khác với tây phương xem có khả năng sinh con là nền tảng hạnh phúc hôn nhân. Xét theo tiêu chuẩn cũ thì Kiều thất tiết từ đêm Mã Giám Sinh rước về động phòng.
Kiều trọng lễ giáo phong kiến nên mới nói: Chữ Trinh đáng giá ngàn vàng, nhưng trong thâm tâm Kiều có cách nghĩ riêng. Vì vậy khi từ chối thành hôn với Kim Trọng nàng đã thử lòng chàng hiểu thế nào về chữ trinh:
Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng
Hoa thơm phong nhị, trăng vòng tròn gương
Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa
Thiếp từ ngộ biến đến giờ
Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa
Không ngờ Kim Trọng cũng rất thoáng:
Xưa nay trong đạo đàn bà
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường.
Có khi biến có khi thường
…………….
Như nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi nào cho đục bụi mình ấy vay
Nhưng cái trinh khi biến khi thường, lấy hiếu làm trinh của Kim Trọng vẫn nằm trong khái niệm y học xưa nay. Quan niệm về trinh của Kiều rất khác. Vì vậy khi hợp hôn Kim Trọng một hai đòi chăn gối, nàng giải thích cho Kim Trọng việc sinh con thừa kế đã có Thúy Vân, còn nàng:
Chữ trinh còn một chút này
Chẳng cầm cho vững nỡ giày cho tan
Còn nhiều ân ái chan chan
Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi.
Lạ thay trải qua đời kỹ nữ, đã là cánh hoa tàn mà nàng nhận mình còn một chút trinh nghe cũng lạ. Lẽ nào lại có trinh nhiều và trinh ít!? Tuy nhiên sẽ không lạ nếu ta hiểu chữ trinh của Kiều như lời Tam Hợp nhận xét về nàng:” Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm”. Tình yêu của nàng dành cho Kim Trọng không phải là vấn đề chiếu giường. Dù trải qua bao đời đàn ông là do nghịch cảnh, chứ nàng không phải là con người ham thú vui xác thịt. Và chỉ có cách không gối chăn cùng Kim Trọng mới chứng minh lòng nàng, xem như là chút trinh còn lại. Lúc này Kim Trọng mới vỡ lẽ, đổi tình cầm sắt sang cầm kỳ với tấm lòng quý trọng Kiều.
Thật là lãng mạn và cũng rất hợp lý. Mở đầu cuộc tình Kiều đã giữ chữ trinh theo thiên hạ, kết thúc cuộc đời: sáng đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh, nàng vẫn giữ lấy chữ trinh của riêng mình. Có khi nào ta nghĩ lại, gặp gỡ người yêu xưa, hai bên cùng ôn những kỷ niệm đẹp, cùng tiếc nuối mà không hề muốn…đền bù. Phúc cho ai vẫn giữ được nuối tiếc để tình yêu luôn đẹp đẽ nuôi dưỡng tâm hồn. Còn một khi đã đền bù thì sẽ như Kiều nhận định:
Cũng là nhơ nhuốc bày trò
Còn tình đâu nữa là thù đấy thôi
Người yêu ta xấu với người
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau.
Những hệ lụy nào sẽ diễn ra sau đó? Sẽ gây phiền toái người khác, và cả hai người? Có thể, nhưng điều đáng sợ nhất là từ đó coi thường nhau và lãng quên nhau. Ai đã từng không thành với mối tình đầu cũng nên suy nghĩ, chiêm nghiệm. Đồng thời cả những cặp lỡ ly thân cũng nên nhìn nhận lại cách hiểu về tình yêu của mình để chọn cách hành xử tốt đẹp khi hai bên đã chia tay.
Thiển nghĩ tấm lòng trinh bạch là phẩm hạnh tưởng như rất riêng của Kiều. Nhưng biết đâu nó vẫn tồn tại thầm kín khắp trong đời này.Tôi yêu nhân vật Kiều với vài lý do, nhưng ngưỡng mộ nhất là Kiều đã nhen đốm lửa tàn tình duyên thành tình bạn tri kỷ để tình yêu đích thực tỏa sáng. Thời Nguyễn Du về trước chắc không hề có câu truyện nào như vậy, cũng không ai nghĩ ra như vậy. Chỉ có trong truyện Kiều mà thiên tài Nguyễn Du đã chấp bút.
(còn tiếp)

.

Lê Nghị

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Nguyễn Du)

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s