T Kiều, T Vân

 

.

TÂM HỒN VIỆT QUA CHỦ ĐỀ VÀ NHÂN VẬT TRUYỆN KIỀU

I.Vài Phác Thảo về chủ đề truyện Kiều
II. Phân tích các nhân vật truyện Kiều với góc nhìn: nhân vật là người Việt
1.Kim Trọng:
2.Thúc sinh:
3.Từ Hải
4. Những nhân vật đàn ông phản diện và Hồ Tôn Hiến.
( đã đăng)

***


5. Thúy Vân

 


Cái tên Thúy Vân gợi lên điều gì? Thúy là tên chim trĩ, loài chim cơ thể thon thả, nổi bật với bộ lông đuôi dài nhiều màu sắc sặc sở. Từ lâu người Việt hay dùng Thúy để đặt tên cho con gái, mong con mình có nét đẹp nổi bật giữa thiên hạ. Thúy Kiều, cô gái đẹp hay trùng âm với chiếc cầu đẹp là chị. Vậy em tên mây đẹp cho tương xứng với cầu xinh. Trĩ, Thúy, Túy là những cận âm do vùng miền trên quy mô Bách Việt xưa. Cũng như ngày nay: làm, lồm, lèm đều cận âm vùng miền nhưng cùng một nghĩa. Vân là mây, mây thường thoáng qua, nhưng đây là vầng mây đẹp. Giống các nhân vật khác, Vân là một nhân vật hư cấu trong Truyện Kiều. Tên của nàng tác giả đã ước lệ tính cách và vai trò trong truyện ngay từ đầu, chứ không phải ngẫu nhiên.
Theo bản Kiều 1875 của Trương Vĩnh Ký, bản chuyển quốc ngữ sớm nhất, vẻ đẹp của Thúy Vân được miêu tả là:
Vân xem trang trọng tót vời
Khuôn lưng đầy đặn nét người nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Bùi Kỷ- Trần Trọng Kim 1925 sửa câu hai thành: Khuôn “trăng” đầy đặn nét “ngài” nở nang. Biến lưng thành gương mặt, biến nét người thành chân mày. Sao lại biến nghĩa xa như vậy? Tôi ngờ rằng 2 cụ Bùi-Trần đã hình dung theo cách hiểu ngày nay: lưng đầy đặn là lưng to, người nở nang là thân thể vạm vỡ, không phải là vẽ đẹp của con gái nên sửa lại: “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”. Hiểu theo nghĩa ngày nay, Vân có vẻ mặt tròn và sáng như trăng rằm. Từ ngữ đẹp, nhưng “ nét ngài nở nang”, tôi cảm nhận không hay và rất lạ. Phụ nữ lông mày như con tằm mà lại tằm to như sâu róm thì đẹp cái nỗi gì!? Nét ngài không phải trích từ ”Mắt phượng mày ngài” như sách giáo khoa chú thích. Mắt phượng mày ngài là tả gương mặt đàn ông, ví như Lã Phụng Tiên ( Lã Bố). Từ Hải cũng có cặp mày ngài: Râu hùm hàm én mày ngài. Cặp mắt phượng nhìn rất soi mói và hung dữ, đôi lông mày đen rậm, cong lên như râu con ngài còn gọi là chân mày lưỡi kiếm, thường tả gương mặt con nhà võ. Có lẽ cách Nguyễn Du 25 năm, người ta vẫn cảm nhận từ ngữ bản Trương Vĩnh Ký là chính xác. Việc này cần thêm kiến giải của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trung đại.
Riêng tôi hình dung cách hiểu về bản Trương Vĩnh Ký. Một là: “ đầy đặn” được hiểu là “ đều đặn”.Nghĩa là vừa vặn, không thừa không thiếu, ngày nay ta thường gọi là hài hòa. Vì vậy “khuôn lưng đầy đặn” là “ lưng đúc y khuôn, hài hòa, không thiếu sót.”. Khuôn nào? Khuôn của dân gian phản ánh trong ca dao: “Đàn bà thắt đáy lưng ong, đã khéo chìu chồng lại khéo nuôi con”. Lưng Thúy Vân nếu đúc y khuôn của ca dao thì là lưng ong. “ Nét người nở nang”, nét người là phong thái, thần thái, nở nang được hiểu là rạng rỡ. Phong thái Thúy Vân toát ra vẻ rạng rỡ. Gương mặt có nụ cười như hoa nở, tiếng nói thanh như ngọc chạm vào nhau, kèm với tóc đen mướt, da trắng như tuyết là đủ diễn vẻ đẹp, mặt tròn hay mặt quả trám cũng không cần thiết. Như vậy hình dung Thúy Vân dáng dấp vẫn thùy mị, nữ tính nhưng toát ra vẻ rạng rỡ. Thực tế người không học khoa nhân tướng khi nhìn khuôn mặt, dáng đi đứng, nụ cười, tiếng nói, ai cũng có thể đoán ra sức khỏe, tâm tính người đó một phần. Trông mặt mà bắt hình dong.
“ Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”. Da trắng ngà như tuyết, đối với người Việt là làn da đẹp, ai cũng biết. Nhưng chú ý rằng” nước tóc” chứ không phải “màu tóc”. Nói cách khác màu trắng, xám của mây gắn với mái tóc người cao tuổi, còn mây đen thì không hề đẹp tí nào. Do đó màu mây nào cũng không gắn với tóc Thúy Vân trong câu này. Phải chăng khi nhìn một đám mây trắng lúc trời trong xanh, ánh nắng chiếu vào viền mây, hoặc trên bề mặt mây có chỗ óng ả, đó là “nước mây”. Nước tóc của Thúy Vân óng ả hơn những nước mây. Rất nhiều cô gái mới lớn có bộ tóc đen bóng mượt óng ả như vậy, không nhận ra vẻ đẹp trời ban cho mình, đi tẩy, nhuộm màu đỏ hoe hoe như râu ngô sắp già, uổng thay! Tóc bạch kim của cô gái Nga óng ánh dưới ánh sáng mặt trời là đương nhiên. Nhưng màu tóc đen mà phản chiếu được ánh nắng, nước tóc đó mới là của quý. Tóm lại, tôi hình dung Thúy Vân là một người như đã trình bày trên.
Nhân đây cũng trình bày thêm, dù viết như bản Trương Vĩnh Ký hoặc chỉnh lại như Bùi Kỷ-Trần Trọng Kim, có bàn tán thế nào, thì vẫn hiểu là Thúy Vân có thần thái tươi vui rạng rỡ, toát lên vẻ đẹp phúc hậu. Nó phản ánh một “tuyết tinh thần”, vẻ đẹp của một tâm hồn trong sáng, cao sang. Tôi vẫn đồng ý như nhiều người phân tích, tính ước lệ của cổ văn, miêu tả Vân lúc mở đầu, tác giả đã báo hiệu Vân ít can dự vào sóng gió trong đời. Khi so sánh Vân được mây thua tuyết nhường khác với Kiều hoa ghen liễu hờn, ám chỉ cuộc đời mỗi người không phải là suy diễn khiên cưỡng.
Nhưng vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều thì Vân được lấy làm chuẩn. Trên nền tảng vẻ đẹp đó, cụ Nguyễn chỉ thêm cho Kiều “ càng sắc sảo mặn mà”. Vân khác Kiều chứ không thua Kiều. Cả hai là: “ Một đôi nghiêng nước nghiêng thành” là so với thiên hạ. “ sắc đành đòi một, tài đành hòa hai ” là so hai chị em với nhau. Sắc đánh đòi một, nghĩa là ai cũng đòi cho mình, nếu chấm thi phải đồng hoa hậu. ” Tài đành hòa hai”, nghĩa là tài cũng hòa nhau. ( bản Kiều Trương Vĩnh Ký “ một đôi” chứ không phải “ một hai”. Cả bản Trương Vĩnh Ký, Duy Minh Thị, Chiêm Vân Thị “ hòa” chứ không phải “ họa”). Vân có thể giỏi nội trợ, nữ công gia chánh hơn Kiều. Kiều giỏi cả cầm kỳ thi họa, nghề riêng chơi đàn nguyệt ăn đứt Hồ cầm, lại biết soạn nhạc, nhưng chưa hề thấy nhắc tới nấu ăn, thêu may bao giờ. Ngược lại, Vân thì có, nàng cùng Vương Quan giúp đỡ cha mẹ khi gia đình sa sút khó khăn:” May thuê, viết mướn kiếm ăn lần hồi”. May vụng thì chẳng ai thuê.
Kiều càng “sắc sảo mặn mà”
So bề tài sắc lại là phần hơn
Vân đẹp nhưng ăn nói không “ sắc sảo, mặn mà” như chị. Tài ăn nói là phần hơn của Thúy Kiều, nên cộng lại Kiều có nhỉnh hơn. Vân là cô gái hồn nhiên, thực tế. Có lần không nhịn được đã cười Kiều than thở trước mã Đạm Tiên: Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa! Còn Kiều có chiều sâu nội tâm, dễ liên tưởng, có tài đối ứng: Kim Trọng, Thúc Sinh trước sau cũng nghe lời Kiều. Đến tay hào kiệt như Từ Hải: “Nghe lời nàng nói mặn mà, thế công Từ đã đổi ra thế hàng”. Khi cần mắng Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến thì Kiều lý luận sắc sảo, hai gã phải gục mặt chẳng bắt bẻ được Kiều. Tài ăn nói của Kiều chỉ thua duy nhất Hoạn Thư: “ Trộm nghe kẻ lớn trong nhà, ở vào khuôn phép nói ra mối rường”.
Vân là hình tượng một người con hiếu, một người vợ hiền thục. Mặc dù Kim Trọng có nghe đồn về nhan sắc hai cô, lần gặp đầu để ý cả hai nàng. Nhưng đối với Kim Trọng, lòng Vân khác Kiều, không rung động khi gặp Kim Trọng. Tối đi thanh minh về nàng ngủ ngon, không hề trăn trở như Kiều. Vân tiếp nhận hôn nhân với Kim Trọng như là một nghĩa vụ thay chị. Xét cho cùng đó cũng là một loại hôn nhân “hợp đồng thừa kế”, không xuất phát từ tình yêu ban đầu. Tâm hồn Vân có ảnh hưởng một phần tâm lý phụ nữ Việt theo lễ giáo xưa, nhưng không đến độ cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Con gái ngày nay ai mà chịu! Nhưng thời đó là lẽ thường. Vả chăng, Vân là người thực tế, biết cân nhắc lợi hại, nàng cũng chưa có tình đầu với ai. Thêm vào đó, nàng đã nhận lời ủy nhiệm của chị. Chị nàng thiệt thòi quá nên nàng tiếp nhận hôn nhân với Kim chẳng vui mừng lắm mà cũng không hề băn khoăn. Kim Trọng lại là người trọng nghĩa tình, nàng thay mặt chị bù đắp hạnh phúc cho chàng, và chàng cũng tỏ ra âu yếm với duyên mới… Tính hiện thực của tác phẩm là vậy.
Khởi đầu là một hôn nhân hợp đồng, nếu hai bên đều có tấm lòng rộng lượng, biết nghĩ tới nhau, như Kim và Vân, qua gần gũi, ái ân sẽ sinh tình cảm gắn bó, mang lại hạnh phúc cho nhau. Thời nay tình trạng ly hôn ngày càng nhiều trong hôn nhân tự nguyện nói chi đến hôn nhân hợp đồng. Một mặt nó giải phóng phụ nữ, nhưng mặt khác cũng gây nhiều hệ lụy cho con cái, cả cho bản thân mỗi bên, tuy không ai muốn thừa nhận, vì chấp nhận hệ lụy để đổi lấy tự do cá nhân. Bài học hạnh phúc của Kim- Vân liệu có đem lại cho vợ -chồng ngày nay cần cân nhắc trước khi quyết định không? Mình vì mọi người, mọi người vì mình là lẽ sống nên chọn, hay là cần thể hiện mình, khẳng định mình mới hợp nhân tính? Câu trả lời tùy hoàn cảnh cụ thể, nhưng nhìn chung, loài người sống, ngay cả những nhà tu, cần sống trong quần thể xã hội chứ không ai có thể sống riêng cho mình mà hoàn toàn hạnh phúc. Nguyễn Du không hề xem đời sống phóng túng là lý tưởng nên theo. Cùng với nhấn mạnh hình ảnh Kiều vượt thoát lễ giáo xưa đè nén phụ nữ, ông cũng bổ sung bằng tính cách thực tế của Thúy Vân, như là một cái nhìn toàn diện.
Khi Kiều đoàn viên, ắt một chút gì đó khó xử cho cả Kim Trọng cùng Thúy Vân trong quan hệ hôn nhân. Ngòi bút của Nguyễn Du tả tâm lý rất tinh tế. Vân biết ý chồng khó xử, nàng cũng khó xử, đợi lúc có đủ hơi men tạo can đảm mới đề nghị, xem như là có sai cũng không ai trách, và cũng thử xem phản ứng Kim, Kiều thế nào.
Tàng tàng chén cúc dở say
Đứng lên Vân mới giải bày một hai.
Hai chữ “ tàng tàng” đi kèm với “ dở say” thật không thể thay bằng từ ngữ nào khác hay hơn, tự nó nói lên tất cả. Không cần diễn đạt dài dòng như tôi. Đàn ông còn phải mượn vài chén rượu để tỏ điều khó nói huống chi phụ nữ. Lần đầu tiên và duy nhất Vân nói như một nhà hùng biện, nàng mở đầu bằng một sự thật:
Rằng trong tác hợp cơ trời
Hai bên gặp gỡ một lời kết giao
Gặp cơn bình địa ba đào
Phải (vậy) đem duyên chị buộc vào cho em.
Bản ĐTTT Kiều Oánh Mậu dùng chữ phải nghe nhấn mạnh là thế buộc. Có một gì đó thoáng buồn, trước khi Kiều đoàn tụ là thái độ Kim Trọng đối với Thúy Vân: Càng âu duyên mới càng dào tình xưa. Hãy đặt mình trong hoàn cảnh Vân, lúc nào cũng nghe chồng nhắc tới chị mình. Phải chăng sau này T.TK.H cũng cùng tâm sự như Thúy Vân:
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết từng thu chết
Giữ mãi trong tim một bóng người.
Ai giữ một bóng người, 😭.K.H hay chồng cô? Ai muốn nghĩ sao thì nghĩ, biết đâu là mỗi người giữ một bóng riêng. Còn tôi thì khi đọc những câu thơ trên tôi lại nhớ tới Thúy Vân. Mới hay trong tình yêu, có những lúc ngoài chồng ngoài vợ là một điểm tồn tại muôn đời!
Và trong gần 15 năm đó, Vân tiếp tục dẫn chứng: xét chồng và chị rồi xét mình:
Cũng là phận cải duyên kim
Cũng là máu chảy ruột mềm chứ sao
Những là rày ước mai ao
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình
Cải, kim là nói tới hôn nhân: hổ phách hút hạt cải, nam châm hút kim loại. Kim và Kiều, đã từng rụng cải rơi kim. Máu chảy ruột mềm là nói tới tình chị em. Tính Vân bộc trực, tính cách nhất quán khi xây dựng nhân vật. Nàng nói thẳng ra tâm lý mỗi người. Ai cũng ước ao gặp lại Kiều, nhưng mỗi người nghĩ tới một kiểu đoàn tụ trong một quan hệ tình cảm khác nhau: chị- em, chồng- vợ, cha mẹ – con cái.
Thúy Vân rào trước đón sau rất kỹ để mở đầu cho cuộc thảo luận. Nhưng nàng chỉ nói một lần, không thay đổi lập trường, bởi vì những gì cần nói, nàng đã nói hết:
Bây giờ gương vỡ lại lành
Khuôn thiêng lựa lọc đã dành có nơi
Còn duyên nay lại còn người
Còn vầng trăng cũ còn lời nguyền xưa.
Quả mai ba bảy đương vừa
Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.
Rõ ràng Vân nói đến số trời, còn viện dẫn ý người: lời thề nguyền rất trân trọng. Lại nói đến nhu cầu sinh lý tuổi Kiều vẫn còn…Qua đó mới thấy nội tâm của Thúy Vân cũng không đơn giản. Lẽ ra việc này Kim phải ngỏ ý với Vân trước. Nhưng nếu Kim ngỏ trước thì lý do chỉ vì thề cũ, nghe có vẻ tham lam nên khó nói, mặc dù với lễ giáo thời đó không ai trách Kim. Đây cũng là đặc điểm tâm lý người Việt, khác với tâm lý của người ở nước lấy đạo Khổng Mạnh làm chuẩn mực.
Còn Vân, Vân mớm cho Kim lẫn Kiều ba, bốn lý do: có trước có sau, có trời có người, có tình máu mủ, có nhu cầu chính đáng của cơ thể. Sống với chồng ngần ấy năm, Nàng biết tỏng lòng chồng, chỉ chưa rõ ý chị mình thôi. Vương ông, Vương bà, Vương Quan ắt cũng hiểu điều tế nhị này nhưng đã tảng lờ. Khi nói ra những lời đó, Vân buộc phải chấp nhận chia sẻ tình yêu, nếu Kiều đồng tình. Qua hành động này, phẩm hạnh của Vân mới tỏa sáng như dự báo ở mở đầu. Truyện Kiều gần như không có chi tiết nào thừa, đầu mở ra thì có lý do về sau. Vân đã bổ sung một khía cạnh của tình yêu.Ấy là sự hy sinh, thông cảm và đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình Việt nam. Nói cách khác là nhấn mạnh thêm một đức tính của người phụ nữ Việt Nam: rộng lượng, giàu lòng hy sinh, sẳn sàng nhận phần thiệt, chia sẻ hạnh phúc vì chồng con, anh chị em, cha mẹ.
Thật khâm phục cụ Nguyễn, đã tái hiện một hoàn cảnh khó xử nhất trong hôn nhân- gia đình ở hoàn cảnh cá biệt. Ông dành một đoạn dài ở cuối truyện để miêu tả tâm lý nhân vật qua hành vi. Truyện Kiều hơn hẳn các truyện khác, ví dụ Truyện Hoa Tiên là chỗ ấy. Truyện Hoa Tiên vốn từ một vở kịch Trung Hoa, kết thúc gọn một vài câu: Lương Sinh lấy cả Dương Dao Tiên, Lưu Ngọc Khanh, và cả hai cô hầu Vân Hương và Bích Nguyệt. Không ai hình dung tâm lý quý phụ nữ đó thế nào! Chồng chung mà ai cũng hạnh phúc cả sao? Cái kết thúc của chế độ trọng nam khinh nữ là vậy. ( xem Hoa Tiên Truyện). Đoạn Thúy Vân tàng tàng đề xuất nói trên phản ánh một sự khó xử, đồng thời phản ánh thời đại Nguyễn Du, phụ nữ đã ngầm không thỏa mãn với chế độ đa thê, than thở thân phận. Hồ Xuân Hương, đại diện đàn bà đương thời cũng đã phản ánh tình trạng thiệt thòi trong chế độ trọng nam khinh nữ trong những bài thơ dỡ cười dỡ khóc: Chém cha cái kiếp lấy chồng chung, kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng!
Kiều với tính cách chị Cả, đã từng hy sinh vì gia đình, nàng vốn thương em, lại từng bị Hoạn Thư dạy cho bài học: “Lòng riêng riêng những kính yêu. Chồng chung ai dễ ai chìu cho ai!”. Nên nghe Thúy Vân nói nàng biết ngay Thúy Vân phải khổ tâm ít nhiều. Vì vậy, Vân vừa dứt lời Kiều gạt phăng:
Dứt lời, nàng vội gạt đi
Sự trăm năm cũ kể chi bây giờ.
Một lời tuy có ước xưa
Xét mình dãi gió dầm mưa đã nhiều
Nói càng hổ thẹn trăm chiều
Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi.
Cái anh chàng Kim Trọng nghe Vân nói đang khấp khởi trong lòng. (Cô mở lời đấy nhé!) Tự dưng bị Kiều làm cho cụt hứng! “Sự trăm năm cũ” là chuyện hôn ước ngày trước chứ không phải là chuyện đã lâu. Kim vội vàng vớt vát, đủ lý lẽ nằn nì. Đừng tưởng rằng đàn bà nước Nam nông cạn đấy nhé. Cái khôn ngoan trong hành xử của Vân và Kiều vượt qua Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải. Một kinh nghiệm cho quý ông, đừng tưởng quý bà làm thinh cứ nghĩ không biết gì! Chính Kim Trọng mới không hiểu liền câu nói của Kiều mới lằng nhằng nài nỉ. Kiều nói:
Nói càng hổ thẹn trăm chiều
Thà cho ngọn nước “thủy triều” chảy xuôi
Trong đời, Kiều đâu chỉ nghĩ tới mình từng mang tấm thân kỹ nữ nhơ nhuốc, từng nói dối Giác Duyên, cũng đã một lần ăn cắp, dù đang mang pháp danh Trạc Tuyền (dòng suối gội sạch). Lần ân hận nhất là nàng phụ lòng người chồng danh chánh ngôn thuận Từ Hải:
Giết chồng rồi lại lấy chồng
Mặt nào mà đứng ở trong cõi đời.
Sau cái chết của Từ Hãi, nàng không thiết sống dù còn vương vấn tình đầu và gia đình, nàng đã chọn buông xuôi theo con nước thủy triều ở sông Tiền Đường. Nhưng nghiệp trần vẫn chưa dứt, được Giác Duyên cứu sống, nàng chọn theo phương châm nhà Phật. “Tu là cội phúc tình là dây oan”. Vì vậy Phạm Quý Thích mới vịnh:
Giọt nước Tiền Đường chẳng rửa oan
Phong ba chưa trắng nợ hồng nhan
Hành vi thà chết theo chồng, xóa nổi oan Kiều là cô gái lẳng lơ. Trắng nợ có nghĩa là sạch nợ. Kiều chọn cái chết là khẳng định danh tiết của mình. Pháp danh của nàng là Trạc Tuyền, sau cái chết của Từ Hải, tự vẫn rồi được cứu sống, nàng quyết chí tu hành, không còn nghĩ nhiều về gia đình nữa. Sau gặp lại gia đình, tất nhiên Kiều cũng hết sức vui mừng, là nhà tu song tình cảm con người ai cũng vậy. Nhưng khi Vương ông muốn đón nàng về nàng đã nói:
Mùi thiền đã bén muối dưa
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sòng
Sự đời đã tắt lửa lòng
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi
Trong thâm tâm, Kiều đã chọn đường tu. Vương ông đề ra giải pháp dung hòa lập am tại nhà, vẹn tu lẫn hiếu, tình. Nàng thấy giải pháp hợp lý để mang niềm vui cho song thân, cũng là điều kiện chăm sóc cha mẹ tuổi già. Người Việt khi lớn tuổi, cũng như khi trải qua gian nan đều nhận thức cha mẹ chính là Phật trong nhà.
Cho nên lần này khi nghe Vân đề nghị lập hôn nhân, Kiều nói: “Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi”. Câu nói không phải là buông xuôi số phận, mà ý nói sẽ giữ pháp danh Trạc Tuyền và tu tại gia. Kiều đã giữ lời đó, mặc dù bề ngoài tròn ước xưa với Kim Trọng, cũng là đem lại niềm vui cho người cũ, nhưng đã đổi thành tình bạn tri kỷ. Tu tại gia là hình thức phổ biến của người Việt. Phải chăng đó là một nét đẹp của tinh thần Phật giáo hài hòa với tâm hồn người Việt. Qua chuyện Thúy Vân ta khám phá thêm một phần nét đẹp tâm hồn Thúy Kiều.
Quay lại hình tượng Thúy Vân, mỗi lần nhắc tới, gợi lên trong tôi một làn mây đẹp thoáng qua khung trời Đoạn Trường Tân Thanh. Hồi nhỏ đọc Truyện Kiều, cũng như nhiều người khác, tôi ít chú ý tới Vân. Nhưng bây giờ đôi khi giật mình, hình ảnh của Vân mới gần gũi đời tôi hơn Kiều. Nói thật, nếu bây giờ ai đó hỏi tôi: “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” bạn chọn ai? Xin trả lời, nếu được may mắn ấy thì chọn Thúy Vân làm bạn đời và chọn Thúy Kiều làm bạn tri âm! Lòng vả cũng như lòng sung, tôi cũng tham lam chả khác gì Kim Trọng đâu!
Cụ Tố Như ngoài danh hiệu đại thi hào, ông xứng đáng là ông tổ ngành tâm lý – giáo duc học Việt Nam. Mộng Liên Đường từng nhận xét: Tố Như tử có con mắt nhìn thông sáu cõi”. Quả vậy, trong cõi nhân gian xứ Việt, cụ Tiên Điền nhìn xuyên gan ruột mỗi người.

.

Lê Nghị

 

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Nguyễn Du)

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s