mua 1

.

SÀI GÒN- NGÀY TRỞ LẠI 

(Phần 2- và hết)

Ở đầu bàn bên này, Trọng vừa ăn vừa chuyện vãn với Tự và Bích Hằng. Trọng hỏi hai cháu về dự tính tương lai của họ như thế nào. Bích Hằng bảo tương lai của cô ấy tùy thuộc vào Sở Ngoại Vụ. Hy vọng năm 2000 hay 2001 sẽ được học bổng của chính phủ Mỹ sang du học tại Yale hay Hardvard về luật thương mại. Ước mơ của cô ấy là làm giáo viên đại học hay chuyên viên kinh tế và tài chánh. Còn Tự năm nay 19 tuổi, nhỏ hơn Bích Hàng 7 tuổi, cho biết là cháu đang tập trung để luyện thi vào Đại học Chuyên môn. Cháu mơ ước được đậu vào Đại Học Công An.
Bà Dì Quới nghe Tự nói thế, bà không hài long. Bà nói một mình:
– Rau nào, sâu đó…
Nghe mẹ nói, Ngọc Tới rất buồn, nhưng không dám một lời phật ý mẹ.
Dì Quới nâng cốc rượu vang lên cao và nói:
– Bữa ăn hôm nay là mừng gặp lại Xuân Tường sau hai mươi năm xa cách.
– Thưa cám ơn Dì. Chị Xuân Tường đáp lời Bà. Thưa Dì cách đây cũng gần hai mươi năm, năm 1975 gia đình mình cũng tổ chức một buổi tiệc để gặp lại Ngọc Tới và Diễm Khánh trở về, sau hai mươi năm tập kết ra Bắc!
– Đúng vậy, Dì Quới nói, đời tôi hết xa con rồi đến xa cháu, đứa này trở về đứa khác phải ra đi. Đó là vận của nước hay số kiếp của tôi?
Trọng thấy bà nước mắt lưng tròng
Bà Dì Quới nói tiếp:
– Thôi ăn đi các con!
Bà nâng ly rượu vang, bà hớp một hớp nhẹ. Anh làm giống như bà. Đúng là rượu vang-Admiral-của Pháp cái hậu của nó thật êm dịu, nồng ấm kích thích vị giác. Càng uống càng đê mê, ăn càng ngon. Nhìn cung cách bà Dì Quới uống rượu vang, từ cách nâng ly, dáng cầm thìa, cầm fourchette, bà chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp một cách sâu sắc. Bà có phong cách nói chuyện thật hấp dẫn, chế ngự người nghe, nhưng luôn luôn vẫn giử vẻ kín đáo, sang trọng trí thức của một mệnh phụ. Sau vài tuần rượu, da mặt bà hồng hào. Bà ngước mặt lên cao, dưới ánh sáng của mười ngọn đèn 100 nến, mái tóc bạc của bà lung linh óng ả lạ thường. Bà nói:
– Bác sĩ Trọng có biết mấy chai rượu vang ấy là rượu của dượng Minh để lại không. Dượng Minh chết để lại một hầm rượu trong xưỡng vẽ của ông ta. Mang một tâm hồn lãng mạn đi làm Cách mạng thật là nghiệt ngã. Trước khi ông ấy chết, ông ấy còn thiết tha với Cách mạng lắm đấy Bác sĩ Trọng. Những năm sau cùng của đời ông, ông bị hội chứng Tâm Thần Phân Liệt. Suốt ngày ngồi nói chuyện một mình hay nói chuyện với ai đâu đâu ở trên trời. Ông sống trong một thế giới xa rời thực tế, thế giới của Don Quichotte mang đao to búa lớn tiến lên chém cối xây; thế giới của những Othello súc xiễm, vung gươm chém bạn mà ngỡ là kẻ thù; thế giới của những kẻ mang tâm hồn thác loạn, tự cho mình là đỉnh cao của trí tuệ loài người! Có nhiều lúc ông gọi các con cháu: “Ngọc Tới, Diễm Khánh, Bích Ngọc và Tự có nghe Bác Hồ gọi tên ông ngoại đến Quảng trường Ba đình để nhận Huy Chương Thống Nhất do chính Bác Hồ trao tặng”? Rồi ông ấy hối mấy đứa, cũng như ông ấy, thay đồ lẹ lẹ để đi cho kịp…Thật là tội nghiệp. Phải không bác sĩ Trọng. Biết làm sao bây giờ-Chacun a son sort. Ai cũng có số cả. Rồi bà tiếp tục với giọng hờn dỗi:
– Mặc áo đi theo Cách mạng, mang cả con cái, gia đình đi theo người ta ra tận ngoài Bắc, anh nhất định không chịu vào Đảng để cho con cái nhờ. Là cá mà không chịu có mang làm sao sống lâu dưới nước được. Anh Minh yêu dấu, cũng may cho anh, anh chết già. Anh tốt số hơn Tô Ngọc Vân, người bạn vẽ của anh của thuở xa xưa. Ông ta bị giết chết sau trận Điện biên. Bây giờ người ta cũng quên đi không còn ai nhắc tới tên của ông ấy cũng như bức tranh thời danh “Hà nội Đứng Vùng Lên” của ông ta nữa. Anh đã sai lầm. Anh và bạn của anh sai lầm. Các anh nghĩ đi làm cách mạng với tinh thần yêu nước, yêu Bác Hồ là đủ. Các anh chưa biết khiếp sợ Chuyên Chính Vô Sản. “Họ” đâu có chấp nhận các anh mãi mãi được. Họ bảo các anh là những kẻ “đồng sàng dị mộng”! Không là đảng viên mà đứng trong hàng ngũ Cộng sản thì các anh được “họ” sử dụng như những hình nộm. Thật vô cùng đau xót cho anh, khi thấy anh, trong những đêm khuya khoắc, cúi mái đầu ngoài bảy mươi trên những trang sách đầy sấm hối, “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”, của ông Bảy Trấn, người bạn già của anh. Khi biết ông ta ở tuổi ngòai bảy mươi còn viết đơn xin ra khỏi Đảng, anh đứng dậy, anh la hét trước tấm voile trắng căn trên giá vẽ: “Thiên lý tại nhân tâm! Vô tận ở trong ta! Trong ta là cỏi vô tận”! Và anh mang tất cả sơn màu pha chế anh vụt trên voile trằng. Anh nằm lăn trên sàn nhà xưởng vẽ. Anh la hét. Anh đứng thẳng người, đưa thẳng hai tay lên khỏi đầu như thần chiến thắng, anh ca tụng tác phẩm của anh: “Con người là mâu thuẩn. Chế độ là mâu thuẩn. Xã hội là mâu thuẩn. Tất cả đều sản sinh từ mâu thuẩn, từ đối kháng, âm dương. Đời khi có, khi không; sắc- sắc, không-không! Arthur Koestler-Le Zero Et L’Infini!”. Người ta bảo anh bị bịnh tâm-thần-phân liệt. Riêng em rất đau xót vì em biết anh đau khổ chịu đựng triệu chứng hoang tưởng từ thuở đó. Sau năm mươi năm cống hiến cả cuộc đời mình cho đất nước anh vẫn chưa biết mình là ai? Anh vẫn chưa biết mình đã làm gì và cho ai? Anh vẫn quờ quạng trong cỏi nội tâm của chính mình. Các ông Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Nguyễn Văn Trấn…họ cay đắng nhận ra thân phận trí thức sống trong Chuyên Chính Vô Sản như “đồng tiền vàng nằm trong cục phân heo”.
Nói đến đây giọng bà Dì Quới nghe chừng như uất nghẹn…
Lúc này, Ngọc Tới mới dám lên tiếng, trong giọng nói rất ôn tồn, nhưng không kém phần chua xót. Hướng về chi Xuân Tường, Ngọc Tới nói:
– Cám ơn chị Xuân Tường và anh Trọng. Hôm nay có anh chị về thăm nước sau gần hai nươi năm xa cách, má em gặp lại anh chị, má cảm động, má mới nói lên sự thật, tình yêu của má với Ba em vẫn còn sống động! Quay lại bà Dì Quới, Ngọc Tới tiếp tục:
– Thưa Má, lâu lắm rồi, từ ngày thống nhất đất nước, lầu đầu tiên, hôm nay, tụi con nghe má gọi Ba “Anh Minh yêu dấu” Diễm Khánh và con lâu lắm rồi, các con mong muốn Má gọi lên câu đó trước khi ba con chết..
Nói đến đây Ngọc Tới khóc, Diễm Khánh, Chị Xuân Tường cũng khóc. Hai Cháu Tự và Bích Hằng ngồi ngẫn ngơ! Ngọc Tới nói tiếp:
– Anh Trọng và chị Xuân Tường, như hai anh chị đã biết, sau ngày thống nhất đất nước, Ba em có nhiều lần tìm về má em. Má vẫn dững dung. Đôi lúc mà còn giận dữ nữa là khác.
Dì Quới đặt cốc rượu xưống bàn, bà ngước mặt cao lên nhìn các con cháu. Bà nói, dằng từng tiếng:
– Tôi giận anh Minh, cha của các chị à? Tôi giận thôi sao? Phải nói tôi thù anh ấy nữa là khác! Năm 1954 anh “bắt cóc” các con của tôi đi tập kết ra ngòai Bắc. Anh buộc các con đi làm chính trị trong lúc tụi nó còn quá trẻ. Ngọc Tới mới có 11, Diễm Khánh lúc đó mới có 9 tuổi, mà anh không hỏi ý kiến của tôi gì cả. Sao anh ác với mẹ con tôi quá vậy? Anh đâu có quyền làm như thế. Vẫn biết tôi với anh lúc đó đã ly dị. Anh được quyền nuôi con. Nhưng anh cũng phải biết các con là con của tôi. Tôi mang nặng; tôi đẻ đau! Là mẹ, tôi thưong con tôi hơn ai hết. Tôi có bổn phận bảo vệ tụi nó. Anh cổng con ra ngòai Bắc, “người ta” gả vợ cho anh. Anh đâu có được gần gũi, giúp đỡ con cái. Các con phải đi ở tập thể. Họ nuôi các Trẻ Miền Nam còn thua nuôi heo. “Trường Miền Nam”, một loại “Trại Tù Cải Tạo” cho Thiếu Nhi Miền Nam theo cha mẹ tập kết ra Bắc vào thời đó. Rốt cuộc rồi Ngọc Tới cũng phải vào Đảng, đi B! Năm 1972, Cách mạng nhờ người móc nối đưa tôi vào gặp Ngọc Tới ở trong bưng. Đầu con đôi nón tai bèo, chân mang dép râu, bị sốt rét rừng bần huyết đến độ thê thảm, da mặt tái xanh cắt không được một hột máu. Tôi bưng mặt khóc khi gặp lại con. Anh có hay không anh? Thiên đường Cộng sản sụp đổ ngay dưới
chân của con chúng ta. Anh ơi! Anh nghĩ thế nào mà anh dẫn các con sống cơ cực đến như vậy! Dẫu tôi còn yêu anh cách mấy đi nữa, anh bảo tôi đừng trách anh sao được. Năm 1975, họ trả cha con anh về, hoàn toàn vô sản, không có một cơ sở để được ăn no. Tôi ôm con vào lòng, xây dựng lại đời tụi nó từ chiếc đũa con…Thôi, các con, Xuân Tường và bác sĩ Trọng tiếp tục ăn đi các con. Tôi xin lỗi, tôi đâu muốn nói những điều như vậy, cũng chỉ vì thương yêu anh ấy quá đó thôi. Biết làm sao bây giờ. Chuyện
đã rồi. Ai cũng có phần số cả. Xin cứ nghĩ như vậy đi để tự an ủi mình. Phải không? Phải không bác sĩ Trọng?
Cả một quá khứ xa xôi gần như mất hút vào quên lãng đang cuồn cuộn quay về trong trí tưởng của Trọng. Anh hoàn toàn bị chìm ngập trong hồi ức dài đăng đẳng trong suốt hơn 20 năm, đầy dẫy những hồi tình tự bi tráng của cuộc đời. Vào khoảng tháng Giêng 76, sau hơn nửa năm thống nhất đất nước, họa sĩ Nguyễn Minh mới đến thăm nhạc phụ của anh, nguyên Chánh án Trương Tự, mặc dù hai người trước năm 1954 đã là bạn chí thân. Họ thân nhau, cho đến nỗi hai người trở thành anh em bạn cột chèo. Ấy thế mà, đợi mãi sau khi thống nhất hơn nửa năm, hai anh em mới chịu nhìn nhau, mới chịu bắt tay nhau. Như vậy, phải biết họ thủ thế với nhau đến mực nào. Trong buổi tái ngộ này, lúc đầu hai người còn e dè, chỉ nói về quá khư xa xâm, thời trước 45, thời ‘tiền cách mạng’, thời còn học ở Collège Louis Le Grand ở Paris, Ecoles des Droits, Ecoles Des Beaux Arts ở đâu đó bên Pháp, Saigòn hay Hà nội. Sau vài tuần rượu Cognac, tình nghĩa có vẻ đậm đà hơn, tình tự hơn.
– Như anh biết đấy, họa sĩ Nguyễn Minh mở đầu tình tự, tôi và bà Quới ly dị hồi năm 52, anh là anh rể của bà, anh biết, vì tánh lang chạ của Bà ấy. Có điều đau khổ cho tôi là bà ngoại tình với những thằng bạn giàu có của tôi, luật sư, bác sĩ, những thằng Quan, thằng Tế. Tôi không để con tôi lớn lên dưới ảnh hưởng của bà me xấu xa và vô luân như vậy, tôi nhất quyết cổng con tập kết ra Bắc năm 1954. Ra đến ngòai Bắc rồi… nói đến đây, ông ngó trước ngó sau, kề miệng sát vào tai cụ Trương Tự, ông nói thật nhỏ: “mình mới vỡ mộng”!
– Vì ‘ngoài đó’ nghèo quá phải không?
– Nghèo thì đã đành, mình không thể trách họ. Đồng bào miền Bắc lạnh nhạt với người miền Nam tập kết ra Bắc, nói thẳng ra là họ không ưa! Mà họ không ưa là phải, vì họ tưởng lầm bọn này là bọn bần cố, bọn vô sản bọn vô học, họ phải oằn lưng ra nuôi bọn này. Họ cũng sợ mình ăn hết phần ăn của họ, mặc dầu phần ăn của họ chỉ toàn cơm độn ngô và khoai. Anh biết, tôi phải phấn đấu biết chừng nào, hai cháu còn nhỏ, nhưng cha con tôi đâu được mấy ngày ở chung. Các con phải đi ở tập thể. Buồn chỉ biết đi ăn thịt chó uống rượu đế. Công tác của tôi lúc đó là dạy hội họa tại trường Mỹ thuật Hà nội. Vài năm sau, tôi được giới thiệu với một cô phó tiến sĩ, du học ở Liên sô về. Ban đầu chúng tôi hiểu lầm nhau, nghĩ chỉ lấy nhau tạm bợ. Nhưng sau, đầu ấp tay gối với nhau, mới hiểu được nhau, bà cũng là con nhà quyền quí cũ xưa của đất Thăng Long, bà mới tìm đến tôi. Từ đó bà thật sư là bạn đời của tôi, chia sẻ tất cả sự nhọc nhằn trong cuộc đời của nhau. Bà chuyên dạy Nga văn. Sau 3 năm ăn ở chúng tôi có một cháu trai. Cái khổ là tôi không phải là đảng viên. Theo cách mạng mà không là đảng viên, nhất định họ không tin mình. Họ xem mình như kẻ ‘đồng sàng dị mộng’. Các con tôi theo học Trường Miền Nam! À! Anh Hai biết không? Thằng Phạm Ngọc Thu, luật sư, Thành Phần thứ Ba. Gia đình giòng họ của nó là dân Tây. Nó là dân Tây tử trong máu. Năm 1970, Phạm Ngọc Thu là Đại diện cho Thành Phần Thứ ba, nó cùng một nhóm từ Pháp được mời đến thăm Hà Nội. Nó được chính phủ Hà nội tiếp đón long trọng. Nghĩ tình bạn cũ xưa, đồng hương người Sàigòn, và theo chính sách của chính phủ, tôi mời nó về nhà. Mua hoa hồng tiếp đón nó long trọng. Nghe nó nói về tình trạng khó khăn của miền Nam, mà cảm động. Thành Phần Thứ Ba là thành phần yêu nước chân chính nhất của miền Nam có truyền thống chống Mỹ Diệm. Say mê, cả bọn tôi nghe nó. Hà nội lúc ấy có bao nhiêu hoa hồng chúng tôi cũng mua cho nó. Nhà có bao nhiêu rượu quí Trung Quốc bạn bè đều đem ra hầu nó. Năm ngoái tôi về, tôi mới hay là nó lấy bà Quới và ăn ở với bà ấy từ năm 1961. Thằng chó đẻ! Mình đi tập kết, nó ở lại, nó ‘lấy’ vợ mình mà lãnh đạo yêu cầu mình phải thiết đãi nó nồng hậu. Đụ mẹ! Bọn làm chánh trị, một phường lưu manh…
Cụ chánh án Trương Tự, ngã ngửa ra cười:
– Sự thật thì không phải hoàn toàn giống như ‘toi’ nói. Thằng Thu với dì Quới chỉ là những kẻ kết hợp làm ăn với nhau. Họ chỉ là những ‘partners’, Quới là con “poule de luxe” của Sàigòn trong mấy chục năm nay. Dì Quới qua trung gian của Luật sư Phạm Ngọc Thu, chỉ giao du với bọn tài phiệt, bọn Tối Cao Pháp Viện, bọn bộ trưởng, bọn nghị sĩ và các tướng tá. Sự thật, dì Quới cần vàng, vàng và vàng…Luật sư Phạm Ngọc Thu, nó có vợ va ba đứa con, nó ở với dì Quới như một partner.
– Như vậy, có nghĩa la nó là thằng ‘ma cô’?
– Oh! Sure!
– Mà nó lại là đứng đầu tổ chức Thành Phần Thứ Ba của Miền Nam?
– Thành Phần Thứ Ba, thứ Tư gì đó, là của tụi ‘toi’ và cộng sản nhào nặn nên, trong này có ai nhìn nhận bọn đó đâu. Ai cũng biết luật sư Phạm Thu hợp tác với Hà Nội làm chuyện nhảm nhí đó, nhưng không ai thèm để ý đến nó, vì chính quyền ai cũng biết nó là thằng ma cô trí thức. Còn chuyện thằng Phạm Ngọc Thu đi Tây, đi Mỹ, đi Tàu, đi Hà nội …là chuyện thường, nó là thằng Tây, nó có quốc tịch Pháp từ trong bụng mẹ. Ai chi cho nó, thì nó cứ đi và hưởng. ‘Toi’ thấy không, 30 tháng 4 nó nhảy đi Mỹ dễ dàng. Mặc dầu thằng anh nó, thằng Thảo, bị Mỹ giết! Tụi nó là “double, triple agents”. Có nhiều kẻ đã phải muối mặt, đắng cay nhìn nhận thằng Thảo là phe của họ. Thật sự thì anh em thằng Thu, thằng Thảo, chẳng phải là phe phái của ai cả, tụi nó chỉ ham sex, địa vị, danh vọng…‘Toi’ thấy anh em nó có đứa nào chịu từ bỏ quốc tich Pháp đâu…
Đang mãi mê với ký ức của mình, bác sĩ Trọng chợt nghe Ngọc Tới, lớn tiếng hỏi bà dì Quới:
– Thưa má, trong 20 năm Ba và hai con tập kết ra Bắc, má làm gì ở trong miền Nam này? Ngày gặp lại má, ba con đến định ôm hôn má cho thỏa lòng mong nhớ. Má xô ba con ra. Má chỉ thẳng vào mặt ba, má nói một câu cay đắng! Má còn nhớ má nói những gì không má?
Bác sĩ Trọng thấy mặt bà dì Quới biến sắc, bà nhìn thẳng vào mặt Ngọc Tới và Diễm Khánh một cách nghiêm nghị, bà nói:
– Tôi không bao giờ quên những gì tôi đã nói với cha của các chị, mặc dầu những điều tôi đã nói có thể rất là thô bỉ nhưng rất thật, nhất là những gì tôi đã nói với cha của các chị! Ông ta quên, ông ta và tôi đã dứt khoác ly dị hối 1952. Ông đâu có quyền sởm sờ với tôi như vậy. Tôi có nói với cha của các chị lúc ấy: “Mặc dầu, trong suốt 20 năm qua tôi là con đĩ Sàigòn, con poule de luxe của Sàigòn đây! Nhưng anh phải biết không bao giờ tôi đưa đít cho những thằng cộng sản, những thằng chạy theo cộng sản như anh cả! Anh và đồng bọn của anh đừng có hòng! Người dân miền Nam này đã mở mắt ra rồi ”! Ngừng một chập, bà nhìn Ngọc Tới, Diễm Khánh và chị Xuân Tường, bà dịu giọng, mặc dầu trông bà còn giận dữ, bà nói tiếp:
– Cha của các chị không thể nào chiến thắng được tôi đâu. Mặc dầu ông ta đã nhiều lần quì dưới chân tôi sấm hối. Các chị nhìn Bác sĩ Trọng, biết bao là thao thức và trăn trở sau 4 năm ở lại làm việc với Cộng sản, rồi cũng bị bọn chuyên chính phản bội. Cuối cùng cũng phải cổng vợ cổng con ra đi. Các chị biết người anh rể của mình và chị Xuân Tường quá mà! Tôi xin lỗi các con các cháu, bác sĩ Trọng, tôi đã nói sự thật, mặc dầu đó là sự thật cay đắng, não nùng cho số kiếp của tôi. Dù sao đi nữa, Ngọc Tới, Diễm Khánh là con của tôi và anh Minh, tôi nguyên với anh Minh tôi luôn luôn gìn giử bảo vệ các con các cháu trong vòng tay của tôi. Mẹ lúc nào cũng yêu thương các con. Tôi xin lỗi bác sĩ Trọng, tôi đã nói chuyện gia đình riêng tư của chúng tôi trước sư hiện diện của bác sĩ và Xuân Tường. Trọng nghe bà Dì Quới gọi tên anh. Anh không dám trả lời. Anh chỉ biết nhìn bà Quới với cái nhìn thầm lặng chia sẻ. Anh dấu mặt sau ly rượu, vô tình anh nhìn mọi người qua ly rượu vang màu đỏ sậm. Anh nói:
– Tất cả lịch sử đau thương vừa qua, chính chúng ta đã tạo ra. Chúng ta kiêu hãnh chấp nhận đau thương đó, nhất là đau thương gây nên từ một cưộc chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chúng ta là kẻ làm nên lịch sử và cũng là nạn nhân của lịch sử…
Trọng thấy bóng dáng chị Xuân Tường lung linh đứng dậy, đến cạnh anh, tay chị ôm lấy vai anh và nói:
– Thừa Dì, hôm nay vui, anh Trọng uống hơi nhiều. Xin phép Dì, Ngọc Tới và Diễm Khánh cho phép con đưa anh anh về phòng nghỉ, con sẽ qua lại ngay thôi, để hầu chuyện với Dì.
Hình như đưa anh về khuya hôm đó, có cả Tự và Bich Hằng anh nghe bà Dì Quới gọi theo:
– Trời mưa lạnh nhớ đắp chăn kỹ cho nó. Xong rồi nhớ qua liền nghe con.
Trọng nghe chi Xuân Tường nói:
– Dạ, xong con qua liền…
Bác sĩ Trọng nhớ khuya hôm ấy, Xuân Tường và có cả Bích Hằng đỡ anh nằm xuống giường, và chị Xuân Tường kéo chăn cao lên phủ kín ngực anh. Trọng nghe chị Xuân Tường và Bích Hằng bước xuống
cầu thang. Tiếng khép cửa nhẹ. Mưa vẫn thả đều trên mái, âm vang khi trôi xa khi lại gần. Có tiếng guốc của ai kéo lê cuối phố trong mưa sủng ướt. Anh thấy hàng hàng lớp lớp cờ bay, và biểu ngữ, từ các khu Tham tướng, Cầu Xéo, Phan đình Phùng, An cư, Cái khế, Quang Trung, Tự đức, Lộ 19, Lộ 20… kéo về trung tâm thành phố Cần Thơ, trên đại lộ Hòa Bình, trước Quân Đoàn Bốn, Quân Khu Bốn, Quân Đội Việt nam Cộng Hòa. Cờ Mặt Trận Giải Phóng tung bay. Biểu ngữ tung bay. Tiếng Hoan hô Cách mạng vào tiếp quảng Cần Thơ vào đêm 30/4/75, nghe long trời lỡ đất. Anh thấy thấp thoáng trong đám đông chạy ra, người đồng nghiệp của anh, bác si Nguyễn Khoa Lai. Sao trông anh ấy khốn khổ thế. Anh liền chạy theo và cố gắng gọi thật to, báo cho anh ấy hay là người anh của anh ấy: Tướng Nguyễn Khoa Nam vừa tự vận! Tướng Nguyễn Khoa Nam vừa tự vận!…
Chợt một cánh tay ôm chặc anh và lây mạnh:
– Anh ơi! Anh mơ ngủ thế nào vậy? Cái niền hàm của anh đâu, sao anh không mang vào? Anh nghiến răng nghe ghê quá. Anh gọi lớn tên Tướng Nguyễn Khoa Nam…Tướng Nguyễn Khoa Nam…Nghe kinh thật! May mà em bên nhà Diễm Khánh vô tình về kịp không thì nguy.
Trọng nhìn đồng hồ thấy đúng 4 giờ sáng. Ngòai trời nhiệt độ đang xuống, lạnh. Chị Xuân Tường đến tắt máy lạnh. Trọng đến bên cạnh cửa sổ nhìn ra, trời Saigòn tồi đen như mực, gió mưa vần vũ, không một vì sao dám ló dạng…
Trọng nghe vợ bảo:
– Thôi rán ngủ lại đi anh. Vợ chồng mình về thăm quê hương, gặp ngày mưa bảo, buồn phải không anh? Thôi ngủ đi anh, em cũng buồn ngủ lắm rồi.
Trọng ôm vợ sát vào lòng, kéo chăn cao lên cho ấm. Chưa bao giờ anh chị thấy cần có nhau như bây giờ.

.

SÀIGÒN 300 NĂM LỊCH SỬ

Buổi chiều không còn một hột mưa. Trời nắng rộ. Thời tiết bắt đầu oi bức. Trọng nghe da thịt mình thay đổi. Từng lỗ chân lông nghe như rạn nứt. Mồ hôi bắt đầu rĩ rã, thấm đượm. Anh cảm thấy vừa mát vừa nóng. vừa khoan khoái vừa khó chịu. Anh bắt gặp lại cái cảm giác mà anh gần như quên đi hai mươi năm xa Saigon. Anh nhìn chị Xuân Tường, anh cười, vì bất chợt anh thấy những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán chị. Anh hỏi vợ:
– Em thấy khỏe không?
– Mặc dầu nóng, nhưng không khó chịu lắm và có ít khoan khoái và thích thú, không hiểu tại sao?
– Vì em gặp lại cái cảm giác mà gần 20 năm em quên đi. Trán em đượm mồ hôi kìa.
Chi Xuân Tường lấy khăn tay, vừa thấm nhẹ mồ hôi trên trán vừa mắng yêu chồng
– Anh này, tinh thật!
Và chị quay sang chia sẻ với Diễm Khánh:
– Ở Chicago, mỗi khi thời tiết nóng như thế này, thì trong người bức rứt, khó chịu lắm. Người ta có cảm giác ngột ngạt, khó thở. Vì độ ẩm ở Chicago cao, nên khó thoát mồ hôi. Nhưng hệ thống an sinh xã hội của họ an toàn lắm, ăn ở, tất cả mọi hoạt động, di chuyển, làm việc dưới những điều kiện nhiệt độ mát về mùa nóng, và ấm về mùa lạnh. Năng xuất lao động của họ không chịu ảnh hưởng bởi thời tiết và khí hậu.
Chị Xuân tường và Diễm Khánh nói chuyện say mê, quên cả xe cộ huyên náo xung quanh mình. Những chiếc xe gắng máy chạy phía sau, tưởng chừng họ đâm sầm vào chiếc taxi. Anh tài xế khó nhọc lắm mới ghé được vào lề và đổ gia đình Trọng. Bây giờ là 5:00 chiều. Nhìn xe cộ tấp nập, hối hả, quay cuồng xung
quanh các đường phố. Đứng trên lề, ngay trước chợ Bến Thành, Trọng có cảm tưởng Saigòn giờ này là cái lòng chảo. Tất cả xe cộ con người bị cuốn hút xoáy vào lòng chảo, cái Bùng Binh cũ của Sàigòn, trước chợ Bến Thành, với vận tốc kinh khủng, điên cuồng. Thật là khủng khiếp khi thấy các cô các cậu Sàigòn trẻ bịt mồm bịt mũi, di chuyển trên những chiếc xe gắng máy, chạy ào ào, chạy bạt mạng. Trọng tự hỏi họ chạy đi dâu? Họ chạy về phía trước? Họ đang rượt theo một tương lai còn cách xa họ? Họ đang rút ngắn thời gian? Họ không muốn mình là kẻ tụt hậu? Hay họ chạy trốn quá khứ? Một quá khứ của chiến tranh, đổ nát, nghèo đói, đố kỵ, lạc hậu và hận thù phi lý. Quá khứ thảm hại mà họ không hề tham dự…
Trọng đi vào giữa nắm tay Diễm Khánh và Xuân Tường, và anh than vãn:
– Sàigon bay giờ không còn giống như Sàigòn trước 75. Đời sống vội vàng quá. Giờ tan sở Saigon trước 75, cũng đông đảo, người qua kẻ lại, nhưng trong nhịp nhàn thư thái.
Diễm Khánh bảo
– Còn bây giờ anh thấy thế nào? Ồn ào lắm phải không? Xô bồ lắm phải không?
– Cũng gần như vậy.
– Bây giờ là Kinh tế Thị trường, cuộc sống tăng tốc với cơ chế thị trường. Ai cũng hối hả làm ăn và cướp đoạt lại những cái gì họ đã mất trong những năm qua. Sau giờ làm việc tại công sở hay tư sở, mỗi người đều làm thêm việc riêng ở nhà của mình, hay ở một nơi nào đó, để kiếm thêm đắp đổi đời sống gia đình. Như chị lao công trong sở của Em, sau mỗi chiều về, hai mẹ con chị làm chả giò, và đem bỏ mối ở tại các phòng trà, hay các trung tâm Karaokê. Ấy thế mà chị kiếm được gần bằng 2 số lương chị làm trong sở em. Có thế họ mới sống được chớ anh.
Ngừng một chập, nắm cánh tay chị Xuân Tường, Diễm Khánh vừa nói, vừa cừơi:
– Anh Trọng còn lý tưởng quá. Anh muốn nhìn thấy cuộc sống Sàigòn hôm nay giống cuộc sống Sàigòn trước 75! Anh muốn thấy mọi trái táo rơi, đều rơi trong thế giới của Newton, thế giới của trọng lực. Sàigòn có những dấn thân mới, nhịp sống mới, bản sắc mới. Nó phải tiến bộ chớ anh. Nó đâu có thể đơn điệu như trước 75 được. Và Diểm Khánh bỏ tay chòang lên vai Trọng, kéo anh sát vào người của cô, nói nhỏ vào tai anh, vừa nhìn chị Xuân Tường:
– Anh! Con người đã thoát khỏi trọng lực của nó từ lâu rồi. Họ đã thoát khỏi sức hút của trái đất. Có thế, nhân loại mới đi sâu vào không gian. Có nhiều thay đổi lắm…Diễm Khánh nhìn sâu vào mắt Trọng một cách trìu mến. Nói xong Diễm Khánh chạy sang phía chị Xuân Tường hai chị em nắm tay nhau vừa đi vừa cười khúc khích.
Chị Xuân Tường đi sát vào người Diễm Khánh, và chị ấy khen:
– Sàigòn bây giờ có nhiều cao ốc, buildings, đẹp và sang trọng…
– Phần nhiều là headquarters, trung tâm đầu não, của các thương nghiệp, kinh doanh ngoại quốc. Phần nhiều cũng là những Ngân hàng, những hotels năm sao, nghĩa là Hotels sang trọng, đạt tiêu chuẩn cao quốc tế. Và diễm Khánh quay về bác sĩ Trọng, nói tiếp:
– Anh Trọng, bây giờ cán bộ đi tham quan, hay đi công tác, hội họp, không còn cái tệ trạng ăn quán ngủ đình, hay ăn ở tại nhà khách của các cơ quan, hay ở nhờ nhà bà con bạn bè. Giống như anh, năm 1978, anh đại diện Ytế Hậu giang, Khu 9, về dự ngày Ytế Quốc tế tại Sài gòn, anh phải ở nhà Dì Hai hay nhà má em cả tuần. Tục lệ ấy hết rồi. Bây giờ các cán bộ, đi công tác đâu đâu, cũng ăn ở trong các hotels. Có nhiều vị lớn tuổi, chưa thích ứng kịp…
– Dĩ nhiên, hai mươi tám năm rồi, hơn một phần tư thế kỷ, phải nhích lên một chút chứ. Không lể cứ ở lì trong tình trạng du kích…
– À, anh hay thật! Anh không khen, mà anh còn chê bai nữa. Anh cấm vận, phong tỏa kinh tế người ta mãi đến năm 1993…
Nói xong Diễm Khánh dùng dằng đi đến nắm tay chị Xuân Tường. Hai chị em đi trước. Trọng lẻo đẻo theo sau. Cả ba người vừa bước vào đường Catinat (Tự do), bây giờ đổi tên là Đồng Khởi. Giờ này, gần sáu giờ chiều, hình như cyclos bị cấm lưu hành trên đường này cho nên xe gắng máy di chuyển trên đường này tương tối có kỹ luật hơn. Nhưng thỉnh thoảng cũng có cảnh kẹt xe. Đường Đồng khởi cũng có nhiều ngã tư cho xe thóat ra khi có nạn kẹt xe. Nhưng vào giờ này thì chính những ngã tư trên Đồng khởi bị kẹt xe nhiều nhất, chỉ vì người đi bộ và người lái xe gắng máy không nhường nhaư, và cả hai đều không chịu tuân thủ theo luật đi đường. Mỗi lần kẹt xe, con đường có vẻ căng cứng ra, như khúc đại tràng của thành phố bị phì đại. Trông thật là ngộp thở.
Diễm Khánh nói:
– Anh xem nào! Chẳng ai chịu nhường ai cả. Tại nạn kẹt xe làm cho thành phố có bộ mặt trông thật là thảm hại trong những giờ cao điểm…
– Chỉ có cái chuyện người đi bộ với người lái xe gắng máy, dân ta cũng không biết nhường nhau. Ai cũng ở trong khí thế đấu tranh cả. Chừng nào mà hóa giải được lúc ấy Sài gòn hết nạn kẹt xe…
– Ngay cả những bộ hành, dường như cũng như vậy, anh nhỉ? Diễm Khánh hỏi.
Chị Xuân tường đột nhiên nói:
– Hai người đang nói chuyện gì vậy, chuyện thần thoại phải không? Nào chúng ta vào xem tranh, hy vọng thư giản được chăng…
Cả ba người nhìn nhau cười và bước vào phòng triển lãm tranh. Nói là phòng triển lãm tranh có lẽ không đúng lắm. Phải nói là phòng chưng tranh để bán của nhiều nghệ nhân khác nhau thì đúng hơn. Đó là một giải phố vào khoảng 30 mét, dài dọc theo đường Đồng khởi nằm bên phía nhà hàng Continental. Phòng tranh vắng, rất ít khách hàng. Cách năm ba thước mới có một vài du khách ngắm một vài bức tranh một cách thờ ơ. Bước vào phòng tranh, Bác sĩ Trọng có cảm cảm tưởng đây là một dẫy phố bị dân chúng và du khách Sàigòn bỏ quên nếu không có tiếng vọng ồn ào xe cộ từ ngoài đường. Bác sĩ Trọng đứng ở giữa Diễm Khánh và chi Xuân Tường, Bác sĩ Trọng nghiêng người, vừa ôm vai vợ vừa nói:
– Em thất vọng? Có lẽ phải có một nơi nào đó triển lãm tranh tốt hơn.
Bác sĩ Trọng chợt giật mình, khì anh nhìn thấy nụ cười trên môi Diễm Khánh. Một nụ cười nhắc cho anh nhớ ra rằng Diễm Khánh là ái nữ của hoạ sĩ Nguyễn Minh, ông cũng giáo sư dạy trường Mỹ Thuật hội hoạ tại Hà nội, trước 75! Chính bản thân của Diễm Khánh là kỹ sư thủ-khoa Điện khóa 1, tại Hà nội, một nhà thơ nghiệp dư, và nàng cũng biết vẽ tranh.
Diễm Khánh quay sang nói Chị Xuân Tường:
– Chị vỡ mộng phải không? Các ông bà này, vừa nói Diễm Khánh vừa chỉ các bức tranh, họ chỉ là những nghệ công. Họ vẽ để kiếm tiền sống qua ngày. Tranh của họ …thiếu chất lượng…
Vừa nói chuyện, Xuân Tường và Diễm Khánh nắm tay nhau đi ra khỏi phòng triển lãm, họ đi rất nhanh như chạy trốn, bác sĩ Trọng rảo bước theo sau.
Cả ba cùng trở lại đọan đường cũ và đi vuợt về phía nhà hàng Caravelle. Di đi ngang qua trước quán ăn Imperial, không ai nhắc ai, chị Xuân Tường và Trọng mời Diễm Khánh vào quán ngồi giải lao.
Quen tánh xưa, Chị Xuân Tường mời Diễm Khánh uống cà phê, ăn một tí gâteau hay kem tùy ý. Thoáng thấy sự ngạc nhiên trên nét mặt Diễm Khánh, Trọng, trong một giọng nói cố lấy hết bình tỉnh, anh nhắc lại lịch quán “Imperial” với đời sống tình cảm của các sinh viên Saigon, vào những năm trước 75…Quán Imperial còn là nơi gìn giử kỷ niệm của hai vợ chồng anh, trong những năm 68-69, những năm bắt đầu yêu nhau. Bây giờ quán Imperial thay đổi nhiều. Hiện nay người ta có thể mua đủ thứ trong quán ăn này. Vâng nó đã là một quán ăn, nó không còn là quán cà phê nữa. Thực khách hôm nay có thể mua đủ thứ trong quán ăn này từ Cheeseburger, Hamburger, Sandwish hot dog, Cocacola, Pepsicola, chả giò, bánh cuốn, bánh mì thịt, orange Juice, ice cream…đến cà phê đen, cà phê fil chảy chậm. Dĩ nhiên lợi tức thu thập khá hơn trước 75 nhiều. Trọng quay lại giải thích với Diễm Khánh:
– Trước 75, quán Imperial là quán của sinh viên Sàigòn. Nơi họ tìm đến để thưởng thức những phút giây thỏai mái. Họ và bạn bè có thể uống một hai chai la ve, một ly cà phê hay một đĩa kem. Họ có thể mừng sinh nhật cho nhau tại đây, họ chia sẻ cho bạn bè những miếng bánh sinh nhật tại dây. Họ thưởng thức nhạc êm dịu, Music of Candle-Light nhất là những năm cuối 60, ở đây có nhiều cuộn băng ghi âm Tình khúc hay Nhạc Phản Chiến của Trịnh Công Sơn. Mặc dầu hôm nay đã thay đổi nhiều, không hiểu vô tình hay cố ý người chủ vẫn giử lại những bàn ghế của thuở xa xua, màu gổ đánh vat ni nâu sậm, vẫn ở vào vị trí. Thật là gợi nhớ. Trưóc 75 quán Imperial rất đơn sơ, nhưng thanh lịch, cửa kính mở thẳng đường phố Catinat, nhưng ấm cúng và kín đáo. Không đông khách như Pagoda, Givral hay Continental…Khách của Imperial thật chọn lọc. Quán này sinh họat mạnh vào những buổi trưa, và buổi xế chiều, và buổi tối. Thường các anh chị viên Sàigon, nhất là các sinh viên Văn khoa, các cậu Y, các cô Dược, từng cặp đi vào quán này. Hệ thống máy lạnh rất tốt. Những năm cuối sáu mươi, cũng có những sĩ quan quân đội Mỹ họ cũng vào quán này. Họ trao đổi thân mật với các anh chị em sinh viên Sài gòn. Cuối cùng, họ cũng tự nhận ra rằng quán Imperial không phải quán dành cho họ. Họ lui trở về Lido, Maxim, Queen Bee, Côte D’Ivoir, Moulin rouge…Họ nghĩ nơi đó thích hợp với màu áo trận của họ nhiều hơn.
Thay vì mời Diễm Khánh ngồi cùng bên với chi Xuân Tường như thường lệ, lần này Trọng, mời vợ ngồi cùng bên với mình. Cả Chị Xuân Tường và Diẽm Khánh đều ngạc nhiên. Trọng nhìn sâu vào mắt vợ thật lâu, như muốn tìm sâu trong kí ức chị Xuân Tường một điều gì. Trọng hỏi chị Xuân tường:
– Cà phê hôm nay, ở đây còn đọng lại mùi vị năm xưa không em?
– Anh muốn nói gì? Sao nghe tình thế. Chi Xuân Tường mở to đôi mắt nhìn Trọng
– Liệu tối nay, em cũng sẽ mất ngủ như ba mươi năm về trước, khi chúng mình mới bắt đầu yêu nhau. Sau khi uống cà phê với anh trong quán này, về khuya em thường mất ngủ, như em thường nói, không hiểu tại thiếu anh, hay tại caféine?
Nghe đến đây chị Xuân Tường cười lớn lên và chị nói đùa:
– Hum! Hình như cả hai…
Trọng tiếp tục:
– Xuân Tường! Em còn nhớ vào ngày 20 tháng 12 năm 1969, cũng trong quán này, cũng tại bàn này, trước sự chứng kiến của chị Mai Thương…
Nói đến đây Trọng trịnh trọng nâng nhẹ bàn tay trái của vợ. Anh quì xuống anh nhìn thật sâu vào mắt chị Xuân Tường. Tay anh nâng bàn tay chị Xuân Tường. Anh hôn bàn tay thật âu yếm, Anh nói:
– Xin Xuân Tường nhận lời cầu hôn của tôi, một bạch diện thư sinh, nhưng nguyện với mình luôn luôn gắng bó và chia sẻ trọn đời với Xuân Tường…
Và Trọng nắm lấy bàn tay chị Xuân Tường, anh đẩy chiếc vòng cầu hôn sâu vào trong ngón tay của chị.
Chị Xuân Tường xúc động mạnh. Chị đứng dậy, hai tay choàng lên cổ, gục đầu vào ngực chồng. Chị thổn thức:
– Chuyện đã 29 năm rồi, sao em vẫn xúc động khi nghe anh nhắc lại.
Chị Xuân Tường, nước mắt còn đọng trên mi, đưa tay nắm lấy bàn tay của Diễm Khánh:
– Diễm Khánh! Tôi chấp nhận mất tất cả của cải vật chất. Nhưng xin ai, đừng bao giờ tước đoạt những cái riêng tư của chúng tôi, của con người, của trái tim chúng ta. Nếu có một kẻ nào, hay một chế độ nào cố tâm thủ tiêu tất cả cuộc sống riêng tư của chúng ta, những kỷ niệm, những tinh cảm, yêu thương, những kẻ đó thật là vô luân. Vì cái cỏi riêng tư ấy mới thật là người…
Rồi chị ngã đầu vào vai Trọng, chị nói:
– Trở lại Sàigòn, mình tự nhiên gặp lại những cảm giác xưa, những kỷ niệm xưa, thật thú vị phải không anh? Và chị nói tiếp trong tiếng thở dài:
– Thật không ngờ, mất Sàigòn, chúng ta mất tất cả…
Cả ba người đều bước ra khỏi quán Imperial. Họ quên để ý đến đám đông trong quán đang nhìn theo họ.
Trọng nói:
– À! Bây giờ mới có 7 giờ! Hình như đến 8 giờ nhà hát Tây mới làm lễ khánh thành? Trọng hỏi Diễm Khánh.
– Hình như trong thư mời họ nói thế, Diễm Khánh trả lời va cô ấy nói tiếp:
– À, mà này anh diễn xuất sao mà nhập vai quá vậy, làm chị Xuân Tường xúc động mạnh đến khóc và chung quanh xem chừng ai cũng cảm động.
Chị Xuân Tường vội đỡ cho chồng:
– Đó là sự thật, sự thật của cuộc sống Saigon trước 75…
Bây giờ chị Xuân Tường đi vào giữa hai người. Chị nắm tay Trọng, chị ôm vai Diễm Khánh, chị đang sung sướng. Chị đang hưởng hạnh phúc. Hạnh phúc mà chị bị cưỡng đoạt trong gần 25 năm qua. Khi đến gần nhà hàng Givral, chị Xuân Tường có ý muốn mời Diễm Khánh ghé vào, ăn một miếng bánh mì Tây và jambon. Chị Xuân Tường nói nhỏ cho Diễm Khánh nghe:
– Bánh mì Tây và jambon của Tây, ở Chicago, rầt khó tìm. Muốn ăn, phải lái xe ra tận trung tâm thành phố Chicago, mua mới có. Mà chỉ có một cửa hàng bán thôi. Chủ cửa hàng đó lại là người Việt Nam. Cửa hàng có tên rất ngô nghĩnh, tên Tây: ‘Colonial’. Cộng đồng Việt Nam tại Chicago gọi đùa: “Quán Tây Thuộc Địa”. Quán ấy rất đông khách. Phần nhiều thực khách là người Mỹ. Muốn có chỗ phải gọi điện thoại để giử chỗ trước một hay hai ngày…
Diễm Khánh nghe có vẻ vừa thích thú vừa ngạc nhiên. Thấy thế, Trọng nói:
– Vâng đúng vậy. Sự thật nó như thế là vì sự quan hệ ngoại giao, giữa chính phủ Mỹ và chính phủ Pháp trong mấy mươi năm qua rất tồi, nếu không muốn nói là sụp đổ. Nó có nguồn gốc một phần, từ sự phiền nhiễu thua thiệt, và sự xung đột của cả hai quốc gia đó trong chiến tranh Việt Nam. Sự quan hệ của họ, có nhiều lúc xấu cho đến nỗi, ở tại Mỹ, tôi không thể nào tìm mua cho Xuân Tường một lọ nước hoa làm tại Paris, France, mà bà ưa thích.
Diễm Khánh nhìn chị Xuân Tường, nói với giọng thiết tha:
– Chị! Diễm phúc quá!
Chị Xuân Tường nói:
– Cám ơn Diễm Khánh, thật vậy, đồ mỹ phẩm của Pháp có một thời thật khan hiếm trên thị trường của Mỹ. Nhưng bây giờ hết tệ trạng đó rồi…
Diễm Khánh và Chị Xuân Tường hai người nhìn qua bến kia đường Đồng Khởi. Hai người đang chiêm
ngưỡng rạp hát Opera, người Pháp họ trùng tu bên ngoài khá xinh đẹp, màu sắc trông như các rạp Opera của Pháp, nhưng rất nhỏ. Trọng nghe Diễm Khánh giới thiệu với chị Xuân Tường:
– Thoạt kỳ thủy, ngày xưa, nó được xây cất như một nhà hát dành cho các tên Tây thực dân, bà đầm, giải trí. Sau đó trong thời Ông Ngô Đình Diệm, Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, nó được cải dạng bên trong để trở thành tòa nhà Quốc Hội cho đến năm 1975. Để mừng “Sàigòn 300 Năm Lịch Sử,” chánh phủ hôm nay tổ chức khánh thành tòa nhà ấy sau khị được chính Pháp viện trợ và sửa sang. Những người đi dự lễ khánh thành hôm nay, dĩ nhiên là những người có giấy mời. Em được ba thiệp mời, em mời anh chị đi chơi cho vui, để xem bên trong họ hoàn tất trùng tu các balcon chưa? Hy vọng họ làm rồi. Chắc anh chị cũng thấy nó không tệ lắm. Hôm nay có phần phụ diễn âm nhạc, có cô Mỹ Linh và có cả ca đoàn Bông Sen.
– Thế chắc thế nào họ cũng hát bài “Bông Sen”
– Chắc là có
– Tôi thích bài đó lắm.
– Chị cũng biết bài đó nữa sao?
– Dì quên rồi sao? Hồi 79, lúc chúng tôi sắp vượt biên, Dì và Bích Hằng có xuống Cần Thơ thăm chúng tôi. Dì mang cho chúng tôi mấy băng nhạc Giải Phóng, trong đó có nhiều bài rất hay: Bài “Bông Sen,’ bài “Nổi Lửa Lên Em”, bài “Những Ánh Sao Đêm”..
Trọng nghe Diễm Khánh thốt lên:
– À, lâu quá em quên mất.
– Chúng tôi khó quên lắm. Anh Trọng mang theo qua bên Mỹ, mỗi khi nhớ nhà, nhớ bà con, nhớ Diễm Khánh…anh Trọng thường nghe lại mấy băng nhạc đó.
Trọng nhìn thấy trong mắt của Diễm Khánh một thoáng buồn. Diễm Khánh nói tiếp:
– Những bài nhạc đó cũ quá rồi. Không còn hợp thời nữa. Ngay các ca sĩ trong các tapes đó cũng vậy. Lác nữa chắc có có lẽ Cô Mỹ Linh, ca sĩ trẻ từ Hà Nội, sẽ hát bài “Một mình” cho anh chị nghe. Tôi tin là anh chị sẽ thích!
Trọng nghe thích quá. Anh nói lớn:
– Nghe tựa bài hát “Một Mình”. Tôi cũng thích rồi. Chắc ‘một mình’ thỉ buồn lắm phải không. Buồn một cách thú vị lắm, phải không? Như chúng ta, gần 20 năm ‘một mình’! Và anh nói thật lớn:
– “Buồn ơi! Chào ngươi! Bonjour Tristesse”! Trọng cười vang lên.
Chị Xuân Tường bảo:
– Diễm Khánh xem, tội nghiệp cho kẻ bị lưu đầy, hôm nay tìm lại được quê hương.
Trọng nhìn đồng hồ anh reo lên:
– Tới giờ rồi, chúng ta qua ngay bên ấy thôi. Hình như quan khách họ cũng lần lượt đến rồi. Mình là Mỹ kiều đi vô muộn thì kỳ lắm…
– À, hay đấy Chú Sam…Sau câu nói, Diễm Khánh quay mặt đi chỗ khác, không nhìn Trọng..
Khi cả ba người bước vào rạp hát, thì các quan khách đến cũng khá đông. Người soát vé mời Cả ba người ngồi vào hành ghế thứ hai. Trọng hơi thất vọng. Vì anh muốn ngồi hàng ghế phía sau, vì anh muốn quan sát các quan khách có những ai. Nội thất của nhà hát trông sang trọng, nhưng quá nhỏ, vào khoảng 500-600 chỗ ngồi. Hai balcons, hai bên tường, quá nhỏ. Đại diện chánh quyền Thành phố không thấy ai. Quan khách gồm có người Việt, người Đại hàn, người Hoa và người Pháp. Rất là lạ có rất nhiều trẻ con nô đùa đuổi nhau bên trong rạp. Chương trình cũng như thường lệ, gồm có: Phần trình diễn y phục phụ nữ Việt nam. Sau đó là những ông Tây, Bà đầm bước lên sân khấu, bắt tay, vò đầu, tặng quà cho trẻ em “an nam mít ” học tiếng Pháp giỏi; cũng những câu ‘mẹt xì’,‘cống hỉ’ lập lại y chang những cảnh tượng trước 54, hay xa hơn trong thời còn lệ thuộc Pháp. Đoàn Ca Vũ Bông Sen, đúng như chị Xuân Tường ước đoán. Chi hơi thất vọng, vì hôm ấy họ ca bài “Bông Sen” không được hay như chị mong muốn. Mỹ Linh được đón
chào nồng hậu nhất. Cô được giới thiệu như một ca sĩ thượng thặng của Việt Nam, và cô vừa đến từ Hà nội! Nhưng bài ca cô hát hôm ấy không phải là bài “Một Mình!”
Khi ra về, Diễm Khánh có vẻ thất vọng, cô ấy phán một câu:
– Tổ chức khánh thành một nhà hát lớn của thành phố mà xem có vẻ hời hợt, thiếu chặt chẻ, phần thì hệ thống âm thanh họ chưa hòan tất.
– Nếu có hòan tất mọi kỹ thuật đi nữa, tôi nghĩ, Trọng nói, nhà hát ấy không đủ tầm vóc cho tiếng hát Thái Thanh.
Chị Xuân Tường rất tế nhị, chị liền đỡ lời chồng:
– Anh ơi, sao anh nói như vậy? Mỹ Linh hát hay đấy chứ. Cám ơn Diễm Khánh. Nhà hát Opera mới của ta đẹp thật.
Ngừng một chập, Diễm Khánh nói:
– Em cũng đồng ý với anh Trọng, cũng như nhạc sĩ Văn Cao thường ca tụng Thái Thanh. Và ông ấy bảo giọng hát Thái Thanh nghe thật là “đời”…
Về đến nhà đã 12 giờ đêm, Trọng nhìn Diễm Khánh, anh nói
– Cám ơn Diễm Khánh. Nhờ Cô mà chúng tôi sống gần như rất trọn vẹn cho một ngày trở lại Sài gòn.
– Thật sao? Anh khéo khách sáo.
– À, Diễm Khánh, tuần lễ này xem như tuần lễ dành cho “Sàigon 300 Năm Lịch Sử”. Nhưng tôi không thấy có một cuộc triển lãm tranh ảnh hay hoạt động văn nghệ nào mang ý nghĩa tô điểm cho ngày đó cả?
– Có chớ anh, em có mang về cho anh chị quyển sách của nhà văn Sơn Nam mới xuất bản, nhân ngày dịp này đây. Cô vừa nói, cô vừa đưa cho chị Xuân Tường quyển: “NGỪƠI SÀIGÒN” của Sơn Nam. Và ngày mai em sẽ biếu anh chị cuốn Video “DÒNG THỜI GIAN’, dài 45 phút nói về lịch sử hình thành Sàigòn và Nam bộ do Sở Ngoại Vụ TPHCM thực hiện với sự trợ lực về kỹ thuật của Trung tâm văn hóa Pháp tại Sàigòn. Với lại anh chị cũng biết, Chính phủ cũng đang bận rộn đăng cai cho cuộc họp thượng đỉnh của ASEAN tại Hà Nội. Có lẽ cuối tuần hội nghị ấy chấm dứt, chính phủ sẽ mời những người tham dự hội nghị ASEAN tại Hà nội, ghé thăm Sàigòn để mừng Sàigòn 300 tuổi! Lúc ấy có những họat động văn học nghệ thuật tích cực hơn, để chào mừng họ. Hy vọng anh chị vẫn còn ở đây với em.
Trọng sực nhớ hình như hội nghị thượng đỉnh ASEAN đang họp tại Hà nội, nhưng tại sao dân chúng Saigon có vẻ không hay biết gì hết. Hay là họ biết mà họ thờ ơ. Anh định hỏi Diễm khánh, nhưng vì sự tế nhị anh khựng lại. Nhưng Diễm Khánh rất tinh ý, lúc tiễn vợ chồng BS Trọng qua bên nhà riêng, Diễm Khánh bảo:
– ‘Chánh trị’ bây giờ không còn là “món hấp dẫn” của quần chúng nữa. Họ mỏi mệt rồi. Món hấp dẫn nhất của thời đại là làm sao làm ra nhiều tiền, nhiều của cải vật chất. Họ cũng quí tự do dân chủ đấy, nhưng họ cũng không muốn vì tự do dân chủ mà sống nghèo được. Và họ cũng dư hiểu, tự do dân chủ không có trong túi áo của người nghèo. Và khi có tiền, mua tiên cũng được. Bản chất lịch lãm của thế hệ trẻ hôm nay là thế đấy. Khuya rồi, chúc anh chị ngủ ngon….
Sau một ngày dạo phố mỏi mệt, Chị Xuân Tường đang say giấc. Đồng hồ đã hơn 1 giờ khuya, Trọng vẫn không sao ngủ được. Nghe tiếng vợ thở thật đều, Trọng thương vợ vô hạn. Anh có một tí ăn năn, anh hối tiếc là không đưa vợ về thăm nhà sớm hơn. Một thoáng cảm động khi nhớ lại Xuân Tường và Diễm Khánh hai chị em, xinh đẹp và sang trọng như hai bà hoàng, nắm tay nhau đi trên đường phố Catinat khi chiều nay, ngay cả những du khách ngoại quốc cũng phải trố mắt nhìn. Họ sẽ ngạc nhiên hơn nữa nếu họ biết rằng Xuân Tưòng và Diễm Khánh, hai chị em, sống xa nhau trong hai thế giới khác nhau hơn 40 năm…Trọng chiêm nghiệm thấy rằng: dù cho có một Chế Dộ Chính Trị hay một Chế Độ Xã Hội nào có cay nghiệt đến đâu đi nữa, chỉ có thể biến đổi những bề ngoài, những thói quen, nhưng không bao giờ có
thể thay đổi được bản thể, gêne, trong máu của mỗi con người. Ngã lưng, nằm bên cạnh vợ, bác sĩ Trọng nắm lấy bàn tay vợ đặt trên ngực mình. Trong nhớ lại câu nói chiều hôm trước của Diễm Khánh nói với Xuân Tường ngay trước mặt mình: “trong hơn mười năm qua em không hề biết đến người đàn ông là gì” Lúc nói câu nói đó Diễm Khánh xoay lưng lại Trọng, những sợi tóc tơ măn đen mượt trải dài trên trên gáy nõn nà của Diễm Khánh. Trọng cũng cảm thấy thích thú và niềm kiêu hảnh thầm kín trong anh. Anh nhủ thầm “trong gần 20 năm em vẫn chờ đợi anh sao em!”. Một niềm cảm xúc dâng tràn. Trọng yêu Diễm Khánh vô hạn. Trọng ôm Diễm Khánh vào lòng. Nàng ngứơc cổ lên. Trọng say đấm hôn cổ của Diễm Khánh đẹp như đóa hoa huệ tinh khôi. Diễm Khánh không nói được một lời cúi đầu vào ngực chàng thổn thức. Trọng say đắm cúi xuống ôm hôn gáy và ót nõn nà của nàng với những sợi tóc tơ đen mượt. Trọng cảm động nắm tay Diễm Khánh, siết mạnh. Chợt chị Xuân Tường la lớn:
– Anh làm đau Em!
Trọng tĩnh giấc, xuýt xoa xin lỗi vợ
– Anh mơ ngủ, thấy chúng mình nắm tay nhau đi trên phố Tư do chiều nay.
Chị Xuân Tường xoay người lại, chòang tay lên ôm cổ chồng hôn tha thiết.
– Ngủ đi anh, mai vợ chồng mình và Diễm Khánh, chúng mình sẽ đi thăm lại chốn xưa…

THĂM LẠI CHỐN XƯA

Bà Quôc Bảo hỏi Diễm Khánh:
– Vợ chồng Xuân Tường và Bác sĩ Trọng về thăm nước bao giờ?
Chị Xuân Tường liền đỡ lời:
– Thưa Dì, vợ chồng con về cách đây 2 hôm. Các con xin lỗi dì, các con đến hầu thăm các dì hơi trễ.
Với nụ cười phớt nhẹ thoáng qua gương mặt trí thức của một người đàn bà gần 70, bà Quốc Bảo, nhìn chị Xuân Tường, bà nói:
– Chị đang ngồi đúng vào chỗ mà chị Hai, má chị, ngồi cách đây hơn một tháng, khi bà đến thăm tụi này.
– Thưa Dì, má con có cho con hay điều đó…và hôm nay vợ chồng con xin chuyển đến các dì lời hỏi thăm và lời cầu chúc sức khỏe của má con…
Bà Quốc Bảo là chị em bạn dì với mẹ của Diễm Khánh và mẹ của chị Xuân Tường. Bà Quốc Bảo là cô giáo dạy Trọng tai Văn Khoa, 1958. Bà là giáo viên dạy cả ba phân khoa: khoa Luật, khoa Văn và trường Quốc Gia Âm nhạc Sàigòn. Bà chuyên về dương cầm. Thuở đó, bà là gạch nối giữa hai thế hệ Saigòn: ‘Sàigòn Cỗ Xưa’và ‘Sàigòn Đợt Đống Mới’ (Nouvelles Vagues). Bà ham thích đọc sách tiểu thuyết của Marcel Proust, Francois Mauriac…cũng như các sách của Francois Sagan hay các sách của các tác giả existentialists như Simone de Beauvoir, Jean Paul Sartre, Albert Camus…Có lần bà hợp tác với Michel Piclin, giáo sư Thạc sĩ Phân Khoa Văn Saigon, thảo luận chuyên đề về “Aimez Brahms?” tiểu thuyết lãng mạn của Francoise Sagan. Với bản chất trí thức và tâm hồn nghệ sĩ, bà giao du rộng rãi và có đôi chút ảnh hưởng trong hàng ngũ trí thức Sàigòn. Bà Quốc Bảo là con cả của một gia đình trí thức Saigon. Bà có hai người em gái cũng hoạt động cách mạng và thoát ly gia đình vào bưng những năm 50. Một người sau này chuyên về âm nhạc và một người chuyên về tuyên truyền sau này chuyển ngành ngọai giao. Bản thân bà Quốc Bảo bị chính quyền Sài gòn bắt bỏ tù nhiều lần. Nhất là dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà. Thật sự những người trí thức Sàigòn, trí thức Nam bộ vào thời ấy cũng như bà Quốc Bảo, họ theo phong trào Việt Minh là vì họ mến mộ cụ Hồ. Họ nhầm lẫn cảm tình với quan điểm. Sau này có một số đã phải dinh tề hay đã phải trả một giá đắc hơn. Gia đình bà Quốc Bảo có cả thảy là năm chị em: Bốn chị gái, và một cậu trai út. Tất cả học hành trỗi trót. Tất cả con cái chị em bà Quốc Bảo đều học trường Tây trường Đầm từ nhỏ đến lớn. Người con gái thứ tư trong gia đình, Quốc Ngọc, trước 75 là dược sĩ, lấy chồng là một bác sĩ, con
cháu của một vọng tộc Nam Bộ. Người con trai út là Quán, tốt nghiệp y khoa sau bác sĩ Trọng vào khoảng 3 năm. Hai người con sau cùng này đều thoát đi Mỹ vào ngày 30/4//75, với sự hoan hỉ của ông cụ bà cụ. Trước 75, bà Quốc Hương va bà Quốc Thiêng đang ở trong bưng và Hà nội, bà Quốc Bảo lúc ấy thường bị Chính quyền Sàigòn cô lập.
Có tiếng chân người từ trên lầu đi xuống. Đó là một phụ nữ cũng ngoài 60, dáng dấp giống bà Quốc Bảo. Bà chào vợ chồng bác sĩ Trọng và bà nhìn Diễm Khánh với nụ cười hờ hững. Bà Quốc Bảo giới thiệu với vợ chồng Bác sĩ Trọng đó là người em thứ hai của bà, bà Quốc Hương, Còn người em kế của bà, Quốc Thiêng hôm nay không được khỏe không xuống tiếp vợ chồng bác sĩ Trọng được. Bà ấy nhờ bà Quốc Hương xin lỗi vợ chồng Trọng. Nghe nói bà Quốc Thiêng không được khỏe và cũng vì mến mộ bà, có thời bà là nhạc trưởng ban nhạc giao hưởng của Thủ đô Hà Nội, cho nên Chị Xuân Tường xin phép lên phòng thăm bà. Hai chị em bà Quốc Bảo liền đứng dậy, với giọng nói có phần khác lạ, khuyên chị Xuân Tường đừng lên thăm, bà ấy đang mệt và sẽ không tiếp ai. Bác sĩ Trọng và chị Xuân Tường rất ngạc nhiên vì thái độ cương quyết của hai bà dì. Còn Diễm Khánh ngồi trong tư thế bị động hoàn toàn coi như không để ý những gì xảy ra chung quanh mình…
Bà Quốc Bảo nhìn Diễm Khánh và thân mật hỏi:
– Chị Ba Quới bấy lâu nay khỏe không? Lâu quá tụi này không có dịp ghé thăm má của chị.
– Thưa cám ơn dì, má cháu vẫn khoẻ.
Bà Quốc Hương nói với chị Xuân Tường:
34
– Chị Hai, má của Chị, mấy tháng trước về thăm nước có ghé đây thăm tụi này. Má chị thật phúc hậu và có đời sống hài hòa. Tụi này lận đận. Chị Hai lúc nào cũng có chồng có con bên cạnh.
Chị Xuân Tường cám ơn bà Quốc Hương:
– Vâng, thưa Dì, má con lúc nào cũng an phận thủ thường, chỉ biết tìm hạnh phúc với chồng với con.
– Đó cũng là một triết lý sâu sắc. Tụi này hiểu đựơc thì đã quá muộn. Bà Quốc Hương nói câu ấy với giọng thiết tha.
Trọng nhớ lại cha bà Quốc Bảo là Kỹ sư, bản thân của ông cụ là cán bộ cách mạng năm 1945-75. Ông chỉ hoạt động ở thành. Ông đã từng tham gia phong trào Thanh Niên Nam Bộ do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lãnh đạo. Năm 1976, sau ngày giải phóng, ông bị đau mắt glaucoma, đau nhức phải vào Binh viện Bình Dân trãi chiếu, giăng mùng, trên nền gạch nằm chờ cả tuần lễ mới được mổ. Thấy chế độ đối xử với cha mình như vậy các người con gái của ông vô cùng câm phẫn. Nhưng rồi cũng cắn răng nhịn nhục…
Trọng vụt hỏi:
– Thưa Dì, Quán có liên lạc với gia đình?
– Có chứ! Có sao đâu! Vừa nói bà Quốc Bảo vừa nhìn Diễm Khánh có vẻ thăm dò. Quán bấy lâu nay cứ gửi tiền về nuôi Ba Má tụi này lúc ông bà còn sinh thời. Sau đó Ba Má qua đời, Quán vẫn gửi tiền về “support” tụi này. Bác sĩ Trọng, ở Mỹ có liên lạc với Quán thường xuyên phải không?
– Vâng, thưa dì vợ chồng cháu vẫn liên lạc với bác sĩ Quán thường xuyên.
Chị Xuân Tường lại hỏi:
– Bấy lâu nay cậu Quán có về thăm nhà không Dì?
– Có, có một lần vào 1992 khi bà dì Sáu, mẹ của dì qua đời. Và chỉ một lần đó thôi. Dì Quốc Ngọc thì không. Dì ấy bận làm ăn và chăm sóc chồng con.
Diễm Khánh ngồi theo dỏi câu chuyện như khách bàng quan. Diễm Khánh cố tìm một câu hỏi để đánh tan cảm giác khó chịu, Diễm Khánh vụt hỏi dì Quốc Bảo:
– Thưa dì, nghe nói Đặng Thái Sơn sắp về trình diễn dương cầm tại Sàigòn?
– Tôi cũng nghe nói như vậy.
Nghe đến đây, chị Xuân Tường rất ngạc nhiên, chị hỏi bà Quốc Bảo:
– Thưa dì, Đặng Thái Sơn về Sàigòn?
– Anh ấy về nhiều lần.
– Thưa dì như vậy có nghĩa là chỉ về thăm, chớ không phải ở luôn?
– Không, anh ấy chỉ về thăm, và lần này nhân dịp Giáng sinh, anh ấy trình diễn dương cầm để lấy tiền gây quỉ từ thiện cúu giúp các nạn nhân chiến tranh, nhất là nạn nhân của thuốc khai hoang màu vàng cam, dioxine. Bác sĩ Trọng có vẽ cũng biết anh ấy nữa sao?
Chị Xuân Tường liền đỡ lời:
– Thưa Dì tụi này có đi nghe Đặng Thái Sơn trình diễn dương cầm tại trung tâm trình diễn nhạc thính phòng ngoài trời, Rivera, tại Chicago, vào năm 1996 và chỉ có 1 lần đó thôi.
– Chắc bác sĩ Trọng còn nhớ nhà nhà thơ và nhạc sĩ Đặng Đình Hưng? Đặng Thái Sơn là con trai của ông ấy.
Câu hỏi của bà Quốc Bảo thật bất ngờ. Trọng chập choạn trả lời:
– À, ra thế.
– Bác sĩ Trọng quên rồi sao? Ông Đặng Đình Hưng qua đời năm 1990. Ngoài những nghiên cứu và trước tác về văn học nghệ thuật và âm nhạc, ông có để lại hai tập thơ ‘Bến Lạ’ và ‘Ô Mai’. Ông ấy viết hai tập thơ này trong sự thổn thức của nội tâm, cô đơn. Bác sĩ Trọng đọc chưa? Bà vừa nói bà vừa vói tay lên kệ sách, bà lấy tâp thơ ‘Bến Lạ’ đưa cho Trọng xem. Sau đó bà tiếp tục nói về những thăng trầm trong cuộc đời của thiên tài, Đặng Đình Hưng. Bà nói về những thống khổ những ngược đãi mà Đặng Đình Hưng đã chịu đựng với giọng thiết tha, như bà đang nói về bản thân bà, chị em bà, đang bị lãng quên, đang bị ruồng rẫy.
Bác sĩ Trọng đưa hai tay trịnh trọng nhận lấy tập thơ ‘Bến Lạ’, bác sĩ Trọng hỏi:
– Thưa dì, như vậy, hy vọng dì Quốc Thiêng sẽ tham gia buổi trình diễn dương cầm của Đặng Thái Sơn?
– Không! Dì về hưu, không còn làm nhạc trưởng nữa. Tối hôm đó, theo lời yêu cầu của Đặng thái Sơn, dì Quốc Thiêng nhận lời mời làm M.C.
Bà Quốc Hương với giọng nói vô cùng dịu dàng và với cái nhìn vô cùng trìu mến hướng về chị Xuân Tường, bà nói:
– Bây giờ các dì già quá rồi. Lỗi thời rồi. Lạc hậu. Thật sự các dì được cho về hưu non lâu rồi. Các dì mỏi mệt và cũng mòn mỏi quá rồi.
– Có lẽ vì những năm chiến tranh các dì sống khổ quá… con nghĩ như vậy. Chị Xuân Tường vừa nói vừa nhìn Diễm Khánh.
– Những năm chiến tranh, ở trong bưng, các dì sống khổ thì đã đành. Nhưng sau 30/4/75 khi trở về thành lại càng khổ hơn nữa. Kinh tế: không đủ ăn, không đủ mặc, chánh sách: mạnh ai nấy sống, không có một chế độ nào rõ ràng cho những người như các dì và những người hoạt động ở thành. Theo cách mạng gần 30 năm, tù tội lao lung mà không có đảng tịch…Bà vừa nói bà vừa nhìn Diễm Khánh…
Nhìn ra ngoài sân rộng nắng đầu tháng Chạp mát lạnh, Trọng nhìn thấy chiếc xe hơi ‘Peugeot 404’đang đậu trong garage, chiếc xe tương đối còn mới. Bác sĩ Trọng vỗ vai chị Xuân Tường:
– Xem, chiếc xe Peugeot 404 năm nào lũ tụi mình và Quán đi vacance ở Cap Saint Jacque bây giờ vẫn còn mới, còn tốt. Anh quay lại nói với bà Quốc Bảo:
– Thưa dì, chiếc Peugeot của dì còn mới. Dì bảo trì tốt quá.
– Chiếc xe ấy vẫn còn tốt, vẫn còn xài được, bà Quốc Bảo nói tiếp:
– ‘Nó’ mới đi Hà nội về đấy.
– Còn chiếc Taunus của dì đâu? Chị Xuân Tường hỏi
– Ông Sáu (Cha bà Quốc Bảo) cho cách mạng hồi năm 77. Và bà nói tiếp:
– Thời buổi đó mà để trong nhà có hai chiếc xe mới tinh. Không tốt, sợ vạ lây. Thà cho còn hơn bị tước đoạt…
Khi ra về, Diễm Khánh có than phiền
– Ba chị em dì Quốc Bảo bất mãn với chính quyền cách mạng. Nghĩ ra các dì cũng có lý. Nhung các dì tự cô lập. Các dì chỉ mang lại thiệt thòi cho mình. Các dì giống ba em, cùng thế hệ với ba em, được chữ ‘kính’ nhưng mà nghèo, sống khổ đâm bất mãn. Anh thấy đó, vừa nói Diễm Khánh vừa nhìn Trọng, các dì đâu có nghèo. Anh thấy nhà cửa xe cộ của ông bà Sáu để lại vẫn còn nguyên. Chiếc xe Taunus là các dì tự ý cho, chớ ai mà dám tước đoạt của cải của các dì. “Không cho thì bị tước đoạt” dì nói hơi quá. Chế độ không có ưu đãi các dì, không chiếu cố đến các dì thì có, chứ không ai dám tước doạt của cải của các dì cả. Trước 75, dì Quốc Hương là trợ lý ngoại giao của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Bà chuyên về chuyển ngữ Pháp. Ở trong nước các dì nhiều lần đại diện chính phủ tiếp xúc thường xuyên với các nhà báo, nhà văn quốc tế, các nhạc sĩ phản chiến của Mỹ… Em làm sở ngoại vụ em biết rành những chuyện đó. Thế mà, bây giờ các dì vẫn còn sống kỳ dị, bất mãn. Anh có biết tại sao các dì có vẻ cương quyết không cho chị Xuân Tường lên lầu thăm dì Quốc Thiêng không? Anh chị có biết tại sao không? Thời đại này mà các dì còn bất mãn. Cái villa lầu của ông bà Sáu để lại, cả một đại đội ở cũng còn rộng. Hồi 84 các dì đi mua “nốp” về mướn thợ ngăn trên lầu ra 3 phòng ngủ, như 3 căn hộ. Mỗi căn vào khoảng 16 mét vuông. Mỗi bà hùng cứ một căn. Thời buổi này mà ăn ngủ trong “nốp” trên lầu của một villa sang trọng giữa Sàigòn, y như những tổ kháng chiến trong rừng U minh ở thời 45-50 người ta ngủ trong nốp cho khỏi bị muổi đốt. Thật là hết ý kiến. Bạn bè có ai lại thăm, các dì dẫn họ lên khoe y như khoe sự bất mãn của các dì. Tháng trước dì Hai vể thăm nhà. Má em đưa dì Hai, má chị, lại thăm các dì. Các dì cũng dẫn má em và dì Hai lên xem các dì sống trông căn hộ tường ngăn bằng nốp. Vì thương các dì, má em nóng ruột hỏi: “tại sao các em phải làm ra vẻ sống khổ cực chi vậy? Bây giờ chứ đâu phải thời kháng chiến của những năm 40 đâu mà ngủ trong nốp. Hay các em bất mãn điều gì, thì nói thẳng vào mặt họ chớ. Hơn 30 năm theo họ, lao lung, tù tội, khổ sở bây giờ họ quên sao? Đâu có được”. Các dì nín thinh, không trả lời…
– Tôi biết tại sao rồi, Trọng nói một cách bâng quơ…
– Anh nói sao? Anh biết tại sao hả? Chị Xuân Tường hỏi.
– Đó là “Hội chứng Hậu Chiến” còn gọi là “Hội Chứng Tâm Thần Sau Chấn Thương Và Stress” mà chúng tôi bên Mỹ thường gọi là Post Traumatic Stress Disorder Syndromes.
– Anh chỉ được cái nói cuội. Chị Xuân Tường bảo.
Diễm Khánh dịu dàng nói:
– Anh Trọng có thể nói đúng lắm đó chị. Trước hết là thuộc chuyên môn của anh và thứ nữa là em thấy nhiều nhiều cựu chiến binh, nhiều ông cách mạng cũng có những tư tưởng và hành động như các dì vậy. Nhiều lắm…
– Vậy thì tôi tin Diễm Khánh, anh Trọng có thể nói đúng. À, quá trưa rồi… chắc ai cũng đói bụng. Vậy chúng ta ghé quán “cơm phở” này ăn xem sao?
Trọng hỏi:
– “Quán cơm” hay là “quán phở”, tại sao lại là quán “cơm phở”?
Diễm Khánh bảo:
– Nghĩa là quán có bán cơm và có bán phở. Có thế mà anh cũng thắc mắc.
– À, vậy là tôi hiểu rồi, chớ không phải quán có bán món “cơm độn phở” hay món “phở độn cơm”.
Chị Xuân Tường liền bảo
– Ồ, ông ấy lại bị “Hội Chứng Hậu Chiến” nữa rồi. Nghiêm trọng đấy…Cả ba người cùng cười và họ cũng vừa bước vào quán ăn.
Ngồi vào bàn ăn, trưa hôm ấy Trọng đói thật, nhưng anh ăn không thấy ngon. Trọng suy nghĩ mãi về 3 người dì của vợ, sự phản kháng tiêu cực của các bà với chế độ không phải hoàn toàn không có lý. Trọng vô tình nắm cánh tay chị Xuân Tường vừa nhìn ra ngoài đường, anh nói:
– Em, ngoài kia nắng cuối năm trông êm dịu lạ thường…
– Anh thấy thế à? Em xin lỗi, em đang vật lộn với đĩa cơm sườn. Tuyệt vời…
Diễm Khánh nhìn Trọng thầm lặng, và hỏi:
– Anh ăn thấy ngon không anh? Rất tiếc ở đây không có “cơm trắng và cá rô kho tộ” của đất Cần Thơ của anh.
– Cám ơn Diễm Khánh. Tôi đang nhớ Cần Thơ lắm đây. Nhớ chốn xua của chúng ta.
– Vâng, chúng tôi có nhiều kỷ niệm với Cần Thơ tuyệt vời phảỉ không anh? Vừa nói, chị Xuân Tường vừa nhìn chồng âu yếm…
– Không tuyệt vời sao được. Xuân Tường đã hạ sanh ba đứa con chúng ta ở đó…
Nói xong câu ấy anh nhìn ra nắng vàng trên đường phố Lê Thánh Tôn. Trọng không hiểu tại sao khi nhìn sâu vào đôi mắt của Xuân Tường và Diễm Khánh anh lại nhớ về Cần Thơ vô hạn. Hai chị em có màu mắt giống nhau. Màu mắt người con gái Sàigòn và vùng đất phù sa Sông Hậu. Hai màu mắt đều có màu vàng thau của nắng. Hai chị em đều nhìn Trọng với cái nhìn cuồng cuộn tình yêu và ánh sáng./.
.
Đào Như

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Nguyễn Du)