chuyen tau

.

SÀIGÒN-NGÀY TRỞ LẠI

(Phần 1)

DÒNG THỜI GIAN

Trời cuối năm, một buổi chiều êm như mộng. Hàng thông cỗi ngoài hiên, đứng lặng yên, tuyết phủ. Trọng nhớ lại nơi đây, làng Oakpark, ngoại ô phía Tây Chicago, hơn hai muơi năm về trước anh đến cùng gia đình, cũng là nơi anh và gia đình dừng chân lại trong suốt hơn hai mươi qua. Làng Oakpark thuộc tiểu bang Illinois, một địa danh lạ lẫm với anh trước 1975, nay đã trở thành vùng đất dung thân cho gia đình. Làng Oakpark có hơn 100 năm lịch sử, qui tụ đủ mọi sắc dân trên thế giới. Phần nhiều họ là những nhà giáo, nhân viên bưu điện, cảnh sát, nhân viên sở cứu hỏa, kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, chuyên viên báo chí, kinh tế, ngân hàng, thương mại…Họ có đời sống vừa đủ, khiêm tốn. Họ thuộc về giai cấp trung lưu của Mỹ. Làng Oakpark có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc, là nơi chôn nhau cắt rốn của nhà văn lớn của thế kỷ thứ hai mươi Ernest Hemingway. Làng, cũng là nơi mà kiến trúc sư Frank Lloyd Wright phát triển tài năng của ông. Kiến trúc sư Frank Lloyd Wright là niềm tự hào của người Mỹ về đưòng nét kiến trúc thẳng đứng vương cao đến vô tận, chan chứa niềm hy vọng của đất nước trẻ trung mới ngòai hai trăm năm lịch sử. Các con của anh đã lớn lên tại làng này và họ rất tự hào về nền văn hóa của làng mà họ hấp thụ.
Ngoài trời Giáng sinh đang trở về. Ngày Giáng sinh năm nay, các con và rể của anh về đông đủ. Chỉ có Tỏa, cậu trai út, về trễ, đang trên máy bay, từ San Francisco sẽ về đến O’Hare, Chicago, lúc chín giờ tối nay. Vợ anh, chị Xuân Tường đang loay hoay ở trong bếp, cùng với hai cô con gái, mãi lo chưng diện cho cái bánh Giáng sinh, cái bánh trông như thân gỗ mục, mọc lên những cụm nắm sần sù. Bên cạnh những cụm nắm xấu xí ấy, là những bông hoa màu hồng, màu đỏ tươi thắm tương phản tuyệt đẹp. Có cả dòng chữ “Mừng Giáng Sinh” màu xanh lá mạ.
Không khí đoàn tụ gia đình gây cho mọi người niềm vui ấm cúng. Nhìn bánh Bánh Giáng Sinh anh nhớ lại những mùa giáng sinh ở Sàigòn gần 40 năm về trước. Nhất là cái khí hậu mát lạnh của Saigon trong mùa Giáng Sinh, cái mát lạnh vừa đủ gây đôi má đỏ hây hây của các cô đứng bán hàng trong các cửa hiệu, các nữ sinh Gia Long, Trưng Vương, các cô nữ sinh viên Viện Đại Học Saigòn. Anh nhớ đến các phố Lê Lợi, phố Tự Do, phố Nguyễn Huệ và nhiều phố khác tràn ngập các các thanh niên và thiếu nữ. Các cô mặc váy ngắn, váy soirée, họặc áo dài. Có cô ở phố Thăng Long, mới di cư vào Nam năm nào, bây giờ chiếc áo dài của họ vẫn còn nguyên dáng Hà nội. Hình ảnh Nhà Thờ Đức Bà Notre Dame, và dòng người cuồn cuộn xuôi về đó lúc nửa đêm. Các cô cậu thanh niên trẻ trung, các học sinh, sinh viên chia từng nhóm nhỏ, đứng dưới những mái hiên của khu phố, họ ca các bài ca quốc tế Mừng Giáng Sinh trong lời Việt, lời Pháp, lời Anh… Họ hưởng trọn vẹn một ngày lễ hội quốc tế, đầy tin tưởng vào hạnh phúc ở ngày mai. Càng về khuya, người càng đông, họ đưa nhau vào các quán Givral, Imperial, Continental hay Pagoda…họ chia nhau những mẩu bánh Giáng sinh ăn mừng lễ Réveillon. Phần nhiều họ là những người trẻ ngọai đạo, nhưng họ chia sẻ ngày vui quốc tế một cách trọn vẹn và kính cẩn. Đêm Giáng sinh tại Sàigon, người là người, trong đó có anh và bạn bè anh, tràn ngập Thủ đô với niềm hân hoan bất tận. Anh nhớ lại các bạn bè của thuở Sinh viên. Anh nhớ lại các Câu Lạc Bộ Sinh viên, các cư xá sinh viên. Câu
Lạc Bộ Phục Hưng-Foyer Renaissance- nơi đó anh đã ở 10 năm, suốt cuộc đời sinh viên của anh. Các cư xá bạn: Cư xá Đắc Lộ -Foyer d’Alexandre de Rhôde- cư xá Minh Mạng và các cư xá của các chị nữ sinh viên như Cư Xá Trần Quí Cáp, Thanh Quan Lưu Xá…Trong dịp Giáng sinh, các Cư xá Sinh viên thường hay tổ chức những cuộc vui, những buổi gặp gỡ nam nữ sinh viên bằng những buổi trình diễn kich nghệ, âm nhạc và nhất là ca hát. Mùa Giáng sinh là cơ hội cho các anh chị em sinh viên cũng như các thanh niên nam nữ, gặp gỡ, tìm hiểu, trao đổi yêu thương và học hành qua những buổi kich nghệ, âm nhạc, ca hát do chính họ tổ chức và trình diễn. Đó là hình ảnh Giáng Sinh Saìgòn của những năm lý tưởng, những năm sau hòa ước Genève 1954 đến năm 1963, trước khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng người em trai của ông bị hạ sát.
Khi những chữ Usaid được thấy bất cứ nơi nào; khi những bảng hiệu Snack-Bar của Mỹ tìm thấy trên những đường phố của bất cứ quốc gia nào, thì nơi đó, những quốc gia đó, sẽ có những xáo trộn về kinh tế, chính trị và quân đội. Từ năm 1965 đến năm 1973, dưới sức ép của hơn nữa triệu quân viễn chinh Mỹ những mùa Giáng sinh Saigòn thuở ấy không thể nào tránh khỏi ảnh hưởng của cái triết lý đó. Cũng không gian đó, cũng Nhà Thờ Đức Bà, cũng phố Catinat, phố Bonnard, phố Nguyễn Huệ, cũng những con người của anh và bạn bè, tràn ngập thủ đô Sàigòn, nhưng với một nội tâm khoắc khoải, buồn vui lẫn lộn. Hình ảnh những lính chiến Mỹ đi bên cạnh cô gái Việt, tóc uốn lăn-quăn quê mùa hiện ra trên các đường phố như những thực tế chua xót. Những chiếc mini-jupes được cắt ngắn hơn, kéo cao hơn, bám sát vào thân thể và số phận của những người con gái nghèo khó, vất vã lầm than lăn lộn với lính chiến Mỹ thâu đêm suốt sáng trong các snackbar, những họp đêm, để độ nhật nuôi thân. Những vũ trường với tiếng kèn đồng của nhạc Jaz, được khai thác triệt để: Ritz, Lido, Moulin Rouge, Maxim, Côte d’Ivoir, Đồng khánh, Đêm Màu Hồng, Queen Bee v.v.v…Những năm tháng đó Saigòn hưởng những ngày giáng sinh đặc biệt: Giáng sinh ngưng bắn, Giáng sinh hòa lẫn với tiếng bom B52 thả ở địa đạo Củ chi hay ven đô. Những năm tháng ấy, những mùa Giáng sinh Sài gòn đầy bạo động, lựu đạn và thuốc súng.
Đến năm 1975 đất nước thống nhất. Người Cộng sản miền Bắc cai trị thao túng cả ba miền tổ quốc thô bạo hơn bất cứ đế quốc nào đã từng xâm lăn Việt nam: Tàu, Tây, Nhật, Mỹ…Cộng sản áp dụng chuyên chính vô sản triệt để: tạo phản, xách nhiễu, cướp đoạt tài sản những người dân lương thiện một cách thô bạo mà họ gọi là “tước đoạt trên tay kẻ bốc lột”. Sau 75, Cộng sản bắt giử, tù đày lao cải hàng triệu người miền Nam yêu nước. Cộng sản miền Bắc gọi tất cả người miền Nam là Ngụy, Ngụy quân và Ngụy quyền. Tất cả đàn bà và trẻ con bên này vĩ tuyến mười bảy họ gọi là Vợ Ngụy, Con Ngụy. Và họ thẳng tay chà đạp, đàn áp. Cộng sản phản bội những người quốc gia yêu nước đã từng sát cánh với họ trong hai cuộc trường kỳ kháng chiến. Sau khi thống nhất đất nước, họ thủ tiêu, triệt hạ toàn bộ Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam, một lực lượng chính trị, quân sự của miền Nam đã hợp tácchiến đấu bên cạnh chinh phủ miên Băc-Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ năm 1960. Những người Cộng sản chuyên chính trấn ác, áp bức và thủ tiêu ngay cả những người Cộng sản gốc Nam bộ không tuân thủ theo họ. Những người Cộng sản miền Nam vô cùng phẩn uất khi thấy thân nhân họ, tuy gọi là Gia-đình-Cách mạng, Gia-đình-liệt-sĩ, vẫn bị vùi dâp và đày ải trong các trại tù cải tạo. Người Cộng sản để lộ nguyên hình họ là những đứa con phản trắc của tổ quốc, họ phản bội lại những Bà Mẹ Yêu Nước Miền Nam trước kia có một thời trải thân đùm bộc, nuôi dưỡng, ngay cả sanh con với họ.
Câu hỏi lớn dầy vò anh trong gần ba mươi năm mà anh chưa tìm được một giải đáp dứt khoác: hai cuộc trường kỳ kháng chiến của nhân dân ta, cuộc chiến đấu thần thánh, giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, được sự đồng tình, nhiệt thành ủng hộ của toàn thể dân cả ba miền tổ quốc, của tất cả quần chúng từ giàu đến nghèo, từ Cộng sản đến Quốc gia. Sau khi giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, thì cuộc chiến đấu thần thánh ấy trở thành một cuộc chiến phi nghĩa, phân ly đất nước, chia cắt anh em, xé toang tổ quốc thành muôn mảnh, truy diệt nhau tận cùng. Sau Ba Mươi Tháng Tư Bảy Mươi Lăm hàng triệu người miền nam yêu nước bị Cộng sản trục xuất ra khỏi nước, sống lưu vong trên khắp chín mươi lãnh thổ quốc gia trên thế giới. Có phải chăng đó là hậu quả của cuộc chiến quá dài gây ra đỗ nát, nghèo đói, ngộ nhận, hận thù và lạc hậu? Hay đó chỉ là thân phận của chúng ta, của dân tộc ta, những quốc gia nhược tiểu luôn luôn bị chi phối bởi những gọng kềm quốc tế, thế lực của các siêu cưòng? Hay phải chăng đó chi là kết quả khốc liệt của quá trình thực thi Chuyên Chính Vô Sản của người Cộng sản? Anh rất ngạc nhiên về những mâu thuẩn trong thực tế, anh đã gặp những người lớn lên và trưởng thành dưới chế độ Công sản, họ rất là người. Họ có tòan vẹn lương tri và nhân bản. Anh nghĩ đến hai chi em Ngọc Tới và Diễm Khánh, hai người em bạn dì của vợ anh, anh gặp lại hồi năm ngóai, lúc anh về thăm nhà.
Chợt vợ anh hỏi:
– Suy nghĩ gì mà ngồi lặng thinh vậy? Tỏa, tối nay chín giờ con sẽ về có gì mà anh lo?
Xuân Hảo, cô con gái đầu lòng của anh cũng nói xen vào:
– Nick đi đón Toả rồi đó Ba, có lẽ họ cũng sắp về tới.
Bất ngờ, anh hỏi vợ:
– Không hiểu mẹ con của Diễm Khánh, giờ này họ ra sao? Mẹ con chị ấy giờ này có ấm cúng không?
Nghe chồng hỏi về người em bạn dì của mình bất ngờ, chị Xuân Từơng xem chừng cũng mủi lòng chị gượng gạo đáp:
– Anh khéo có lo! Mẹ con Diễm Khánh còn vui vẻ hơn mình nữa là khác. Anh nên nhớ cô ấy là cán bộ tâp kết về. Hiện giờ Diễm Khánh công tác tại Sở Ngoại vụ, còn Bích Hằng, cô con gái của Diễm Khánh, là chuyên viên chuyển ngữ Anh, Pháp, nghĩa là thông dịch viên của chính phủ trong việc tiếp xúc với phái đòan nước ngoài.
Xuân Hợp cô con gái thứ hai của anh chị, đang lau mấy cái cốc để uống rượu vang tối nay, hỏi mẹ:
– Năm ngoái Ba Mẹ về thăm quê, Ba Mẹ ở nhà Dì Diễm Khánh hơn mươi ngày thì phải? Thưa Mẹ, con gái dì Diễm Khánh tên là gỉ hả Mẹ?
Như chợt nhớ tới điều gì, chị Xuân Tường nói lớn:
– Con bé đó tên là Bích Hằng, lớn hơn Xuân Hảo 15 ngày và lớn hơn con hai tuổi.
– Thưa mẹ, như vậy Bích Hằng sanh ở ngoài Bắc, sau đó nó theo cha mẹ nó về Nam?
– Đúng rồi đó các con. Các con không còn nhớ chớ hồi năm 1979 trước khi mình vượt biên, mẹ con Bích Hằng có xuống Cần Thơ thăm gia đình mình. Họ ở lại nhà mình mấy ngày. Họ chí tình lắm con. Mà mẹ cũng thương dì Diễm Khánh như chị em ruột vậy. Nói đến đó mắt chị long lanh, giọng chị nghe như sủng ướt, nhưng chị cũng cố gắng nói tiếp:
– Lúc ấy các con và Bích Hằng ngủ chung một giường. Bích Hằng hồi đó còn nói giọng Hà nội. Lúc đầu các con còn lạ nhau, nhưng sau vài hôm, dì Khánh trờ về Saìgòn, thật là khó rứt các con và Bích Hằng xa nhau. Lúc đó các con còn nhỏ quá làm sao nhớ hết được. Chẳng thể nào trách các con được.
Thật sự tháng chạp năm ngoái, anh chị có về thăm nhà sau hon 20 năm ở Mỹ. Cũng như những người khác, anh chị về thăm nhà cũng là vì: lâu quá chưa về; nhớ quá rồi, và ai cũng về, mình cũng về thăm xem
sao? Nhưng nếu có ai đặt vấn đề, thì câu trả lời của anh chị thật đơn giản:
– Quê mình thì mình về…
Bên cạnh những lý do thông thường ấy, anh chị còn có những lý do khác nữa: Chị của anh chết đã sáu năm, Cha của anh chết đúng 4 năm, và Mẹ anh chết gần giáp năm. Vợ chồng anh chưa thấy được nấm mồ của Mẹ, của Cha và của Chị, và cũng chưa có cơ hội để đốt nén hương tưởng niệm Người Quá Cố, Đức Sanh Thành. Lý do thứ hai là Tỏa, cậu con trai của anh chị đang học năm cuối cùng bộ môn Xã Hội Học, tại Đại học Illinois, cậu ấy được trường gửi đi du học tại Viện Đại Học Quốc Gia Hà nội, trong chưởng trình trao đổi sinh viên giữa hai viện Đại học Illinois University in Urbana và Viện Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Cuối tháng 12 này, Tỏa mãn học kỳ, về Mỹ. Anh chị về lần này là có ý đón Tỏa về Phanrang, thăm giòng họ bên nội, thăm mồ mả ông bà, cha mẹ, tổ tiên, và thăm nhà Từ đường họ Đào tại Hà Thanh, Xóm Động, Phanrang, để Tỏa có cơ hội tìm hiểu huyết thống của giòng họ.
Thoạt tiên, chị Xuân Tường có ý định lấy vé máy bay đáp ở Hà nội. Ở đó vài hôm để anh chị đi thăm Thủ đô Hà nội, Viện Đại Học Quốc Gia Hà nội nơi Tỏa đang học, và đi thăm các thắng cảnh như Vịnh Hạ Long, Sầm sơn, Đồ sơn v.v…Rồi sau đó Anh chị cùng Tỏa sẽ về Phanrang như dự tính, và vào Saigòn thăm bên ngoại. Đúng ngày 23 tháng 12 tại Saigòn anh chị và Tỏa sẽ về Mỹ. Nhưng không hiểu Chị và Tỏa, hai mẹ con bàn bạc thế nào mà chi Xuân Tường lại đổi kế hoạch lấy vé máy bay đáp tại Tân sơn nhất, Sàigòn lúc 11:30 trưa ngày 8 tháng 12. Anh thấy hơi sớm, nhưng anh cũng chiều ý vợ. Sau này anh
mới vỡ lẽ ra là Tỏa có mặt tai Sàigòn vào ngày 12/12, cho nên ‘Bà’ phải về Sàigòn sớm để sửa soạn đón ‘con trai bà’ từ Hà nội vào.
Sau khi quyết định lấy vé máy bay về Saigon, Tân sơn nhất, chị Xuân Tường liền gọi điện thoại nói chuyện với người em bạn dì, Diễm Khánh. Sau hơn mươi năm xa cách, anh nghe hai chị em, Xuân Tường và Diễm Khánh nói chuyện với nhau mừng mừng tủi tủi. Anh nghe Diễm Khánh nói:
– Không phải mướn Hotel, Motel gì cả. Nhà em có hai phòng ngủ trống, có máy lạnh, anh chị cứ về ăn đây ở đây với em. Về càng sớm càng tốt. Lâu quá rồi. Nhớ quá rồi. Bây giờ mới chịu về thăm nước. À, chị, mấy tháng trước Tỏa có gọi điện thoại cho em. Lúc đầu em ngớ ngẫn không biết là ai, nhất là ‘anh’ ấy nói tiếng Việt ‘ngọng’, mà lại nói giọng Bắc kỳ nữa. Thú thật, lúc đầu em cũng ừ-ừ-hử-hử một hồi lâu mới nhận ra nó là ‘thằng nhóc Tỏa’, con trai của anh chị. Em nhớ hồi năm 79 em gặp nó ở Cần Thơ, trước khi anh chị vượt biên, nó có tí xíu, vừa ngòai hai tuổi. Thật là cảm động, bây giờ lớn, cháu vẫn nhớ nước về học Đại Học Quốc Gia Hà nội.
Anh nghe chị Xuân Tường nói chuyện với Diễm Khánh về sự liên hệ huyết thống gia đình giòng họ và tình cảm ruột thịt, lúc nào cũng gắng bó và yêu thương nhau, không có gì ngăn trở tình nghĩa chị em. Còn về Tỏa, anh nghe chi nói:
– Lúc vượt biên nó mới có 26 tháng chưa đầy 3 tuổi, Xuân Hợp mới có mới có 62 tháng, còn Xuân Hảo vừa hơn sáu tuổi! Sở dĩ Tỏa về học ơ Hà nội là theo yêu cầu của nhà trường vì nó học môn Xã Hội Học. Con của mấy người Mỹ ở đây cũng vậy, nếu họ gốc Đức thì họ học ở Bonn, Frankfurt, Berlin; gốc Pháp thì về Paris, Bordeaux, Lyon v.v…
Anh nghe Diễm Khánh, bên kia đầu giây nói:
– Ngày anh chị về, có Bich Hằng, cháu gái cưng của anh chị, ra phi trường đón anh chị.
Và sau đó anh nghe hai chị em sắp xếp cho ngày về thăm nước của anh chị. Thế là kế họach ngày về thăm nhà của anh chị coi như là được sắp xếp xong.
2- HAI CHỊ EM
Chiếc máy bay của hảng hàng không China Air line quần mãi trên bầu trời Tân sơn nhất, hơn mười phút mà chưa nhìn rõ được phi đạo để đáp. Trời Sàigòn đang mưa lớn. Từ trong máy bay nhìn ra tòan mây mù.
Các chiêu đãi viên hàng không liên tiếp thay phiên nhau, báo cáo thời tiết đang mưa lớn tại Saigòn, và bão
lụt đang hâm dọa các tỉnh Miền Trung: Phan Rang, Nha Trang, Hội An v.v…Chị Xuân Tường ngồi nép ngừơi vào chồng, chị lo lắng…Rồi mưa cũng tạnh dần. Chiếc máy bay len lỏi qua các tầng mây mù rồi xuống thắp. Thành phố Sàigòn hiện ra trong màng mưa! Sau hơn hai mươi năm thấy lại Sàigòn, cảm động, Trọng thấy lòng mình như muốn khóc. Vợ anh, mắt chị cũng đỏ hoe. Quê anh ở ngòai Trung, Phan Rang. anh đi học ở Sàigòn những năm năm mươi, sáu mươi. Những kỳ nghỉ Hè hay dịp Tết anh thường lấy vé của hảng Hàng Không Việt Nam về thăm nhà, lúc bây giờ gọi là Air Việt Nam. Cho nên hình ảnh Sàigòn, Tân Sơn Nhất, nhìn từ trên không phận, quá quen thuộc đối với anh. Mặc dầu sau gần hai mươi năm, anh vẫn còn nhớ rõ từng chi tiết một. Sàigòn, Tân sơn nhất, bây giờ là mừơi hai giờ trưa ngày 8 tháng 12 năm 1998, không khác gì mấy Sàigòn, Tân sơn nhất trước năm 75, có vẻ còn tệ hơn nữa là khác, nếu đếm về số lượng máy bay các hảng Hàng Không Quốc Tế đang đậu và nhất là nhịp độ máy bay đang lên xuống. Lề lối đón khách quả thật là nghèo nàn, lạc hậu. Không có hành lang di động để đón khách tận phi cơ. Hành khách được đón bằng chiếc xe ‘Car’: gồm có một cái đầu máy kéo theo sau cái “remorque” dài độ mươi mười lăm thước, có mái fibro ciment che mưa nắng, có vài hàng cột to bằng cổ tay chống đỡ mái fibro ciment, và cũng là nơi để hành khách bám vào, giử lấy thăng bằng trong lúc chiếc “remorque” di chuyển thật chậm chạp đưa hành khách đến cửa của khu quan thuế quốc tế…
Bước vào khu quan thuế, Trọng có ý đảo mắt tìm cô cháu Bích Hằng, nhưng không biết hình dáng cô ấy như thế nào mà nhận diện. Anh thấy đàng xa một cô con gái tóc ngắn, mặc T-shirt và quần jean, bên ngực trái mang thẻ màu trắng, vì xa anh không thể đọc hàng chữ trên thẻ. Cô bé ấy trông giống hai cô con gái của anh chi lắm. Anh liền bấm bàn tay vợ, và bảo chị Xuân Tường liệu gọi thử có phải cô ấy là Bích Hằng không? Quả vậy, khi nghe gọi, cô ấy vội vàng chạy lại, và hỏi:
– Sao Dì biết “con” là “con”? Con tìm Dì mãi mà không thấy!
Trọng mau miệng đáp:
– Cô trông giống hai cô con gái của chúng tôi lắm. Bà con bên ngoại sao lại giống nhau thế!
– Thưa Dì với mẹ con cũng vậy. Khi đi rước Dì, mẹ con có dặn, bà nào mà con thấy trẻ đẹp giống hệt mẹ đó là dì Xuân Tường. À, thưa Dì, đưa cho con biên lai, để con đi lãnh luggage cho Dì!
Sắp hàng đi ngang qua cửa quan thuế với bốn cái vali to kết sù thật là vất vã. Cũng như các Việt kiều đứng trước cũng như đứng sau anh chị, vợ chồng anh cũng lo le tờ giấy bạc mười đô-la Mỹ kẹp sẳn trong Passport hay trong Visa d’Entrée vì anh thấy nhờ vậy mà ai cũng qua cái ải nầy nhanh chóng. Anh rất an dạ. Đến lược vợ chồng anh, chợt cô cháu gái Bích Hằng, đưa tay ra cản
– Không được Dì! Dì làm như vậy là không đúng theo đường lối chính sách của chính phủ.
Chị Xuân Tường thì bối rối, vì quá ngạc nhiên. Còn anh thì sợ. Anh chỉ mong qua cái ải này càng nhanh càng tốt. Anh chị hiểu cháu Bích Hằng. Vợ chồng anh chị cám ơn cháu. Nhưng cháu còn quá trẻ, quá nhiệt tình với lý tưởng. Thật sự anh chị cũng muốn để các ông công an quan thuế hành sử với vợ chồng anh chị như những Việt kiều khác. Làm như vậy các Việt kiều lúc đó nhìn anh chị cũng dưới cặp mắt khác. Cũng may, mấy ông công an không hạch sách gì nhiều, chỉ hỏi qua loa, rồi cho qua nhanh.
Vừa qua khỏi cửa quan thuế, có hai cậu thanh niên chừng 18,19, mặc quần đen, áo chemise ngắn tay màu trắng, thắc cà vạt xanh đậm, đến đón bốn cái vali của vợ chồng anh lên chiếc xe Taxi Minivan mà Bích Hằng mướn sẳn để rước anh chị. Họ làm công tác rất nhanh và gọn. Làm xong họ chưa chịu đi và còn đứng lớ ngớ. Chị Xuân Tường hiểu ngay là họ muốn “cám ơn”. Chị liền dí vào túi họ mỗi người một tờ giấy bạc 5 đô la Mỹ. Lần này Bích Hằng ngăn cản mạnh dạn hơn nữa:
– Không! Không! Dì không phải cho tiền cho họ nhiều dữ vậy đâu. Đưa Vali của dì lên xe là chức năng của họ. Họ là nhân viên của các hảng Hàng Không, họ được mướn đứng ờ đây, để làm những công tác ấy.
Chị Xuân Tường vội vàng mắng yêu Bích Hằng:
– Đừng khó lắm con, để Dì cho họ ít tiền, gọi là để mừng dì cháu mình lâu ngày mới gặp nhau. Chị liền cám ơn các cậu ấy, và các cậu ấy cũng biến rất nhanh. Chị bảo Bich Hằng:
– Thôi lên xe đi con, Dì nóng ruột muốn gặp lại mẹ con lâu quá rồi. Con dạo này ốm, xinh đẹp lạ. Ngày
xưa, con xuống Cần Thơ thăm Dì Dượng năm 1979, lúc ấy con mập đen, tròn lẳn như con gái Xuân Hợp
của Dì.
Chợt anh tài xế đến lễ độ mở cửa mời anh chị và Bích Hằng lên xe. Bích Hằng nhìn anh và đoán anh đang ngạc nhiên, cô ấy nói một cách bâng quơ:
– Mấy năm trước đi theo các phái đoàn thăm quan các quốc gia Âu châu, và con nghĩ ở Mỹ cũng vậy thôi, con thấy tài xế taxi của họ không khôn khéo bằng tài xế Taxi của ta.
Chiếc xe lách ra khỏi hàng rào người, chạy xa dần Tân sơn nhất. Dọc đường, anh thấy đời sống quá nhộn nhịp, gần như hổn loạn, ai ai cũng đổ ra mặt đường sinh sống, từ buôn thúng bán mẹt, cây kim sợi chỉ đến cả những gian hàng rộng lớn bán tòan hàng ngọai quốc. Xe chạy được một chập, Bích Hằng hỏi chị Xuân Tường:
– Dì thấy Sàigòn thay đổi nhiều không? Dì có thấy thành phố nào trên thế giới xe cô và người di chuyển hổn loạn như vậy không? Mai mốt Dì có đi đâu thì gọi taxi mà đi, hoặc mẹ con lấy xe nhà đưa Dì đi. Đó là an tòan nhất. Và Dượng Trọng cũng vậy, đừng bao giờ đi xe Honda ôm, nguy hiểm lắm. Ở đâu cũng vậy, Hà nội, Huế, Sàigòn đâu đâu Honda ôm cũng nguy hiểm không lường được…
Trọng thấy Bích Hằng ăn nói thân tình trong gia đình không có gì là ngăn cách. Được nuôi dưỡng trong một hệ gia đình có truyền thống, mặc dầu lớn lên dưới những chế độ chính trị khác nhau, các con cháu của anh chị có những điểm giống nhau trong lề lối xữ thế. Chị Xuân Tường vẫn ngồi im lặng nép mình bên cạnh cô cháu gái. Anh biết chi đang
xao xuyến. Chị không thể nào nhận ra những con đường hay gốc phố của Sàigòn thương yêu của chị hai mươi năm về trước. Biết bao vật đổi sao dời. Tất cả trật tự xây cất và tên đường đều thay đổi. Mỗi lần chị nhận ra con đường hay gốc phố mà nó đã bị đổi tên, mặt chị như đanh lại. Chị cảm thấy như vừa bị ai tước đoạt tài sản hay những giá trị tinh thần riêng tư của chị. Vừa nhìn ra được đường HAI BÀ TRƯNG, chị Xuân Tường la lớn:
– Đường “HAI BÀ TRƯNG” đây hả! Chợ Tân Định đây hả! Nhà Thờ Tân Định đây hả! Anh ơi! Nếu không còn cái bảng tên đường cũ em không thể nào nhìn ra ngay cả từng con đường cũ của mình. Rồi chị quay lại nói với Bích Hằng:
– Từ con đường “HAI BÀ TRƯNG” này chạy mãi… theo ngón tay chị chỉ chỉ…đụng Ngã Sáu, sau Trường Luật cũ của Dì, trước Viện Đại Học Sàigòn, gần Tổng Hội Sinh Viên Sàigòn cũ, tức là Công Trường Duy Tân, rồi tiếp tục chạy tới đụng đường Thống Nhất tức là đường Norodom cũ, sau lưng nhà thờ Đức Bà, trước Dinh Độc Lập của mình, quẹo tay trái, chạy mãi đến gần Sỡ Thú, quẹo tay phải… Nếu lái xe Solex như Dì thuở đó, trong ba phút con sẽ vào sân trường Trưng Vương. Trường Trưng Vưong là trương Nữ Trung Học của nguời Bắc di cư vào Nam năm 1954. Dì là học sinh hiếm có người Nam được học trường đó từ lớp Đệ Thất đến Đệ Nhất. Hồi ấy các cô giáo của Dì có bà Vương Văn Bắc, vợ của ông Bộ Trưởng Ngọai giao Việt Nam Cộng Hòa, Bà dạy Pháp văn. Bà ấy sang lắm!
Tội nghiệp cho Bích Hằng. Anh biết cô ấy chẳng hiểu gì về địa danh hay tên người mà chị Xuân Tường vừa nói đến,“Dinh Độc Lập của mình” là của ai, cũng như cô không hiểu lái xe “Solex”là xe như thế nào, nhưng cô cũng ngước mắt nhìn theo ngón tay trỏ của Chị chỉ chỉ…Trọng thầm cám ơn Bích Hằng vì cô ấy biết kính trọng sự xao xuyến trong tâm hồn của vợ anh, cũng như cô ấy phải san sẻ và chịu đựng những nụ cười chua chát, những cái nhăn mặt của chị Xuân Tường.
Ngưòi tài xế cho xe chạy chậm, ngừng lại, rồi lại lui xe. Chị Xuân Tường hỏi Bích Hằng:
– Đến nhà rồi hả con?
– Dạ! Đến nhà rồi. Chắc Mẹ con đang ở nhà chờ Dì.
Hẻm thì sâu hun hút, hai bên lại có hai căn phố đập ra để lên lầu làm motel, hotel gì đó, cho nên lùi xe lại không phải là chuyện dễ. Ấy thế mà anh tài xế lách vào, lùi xe lại vô tận sân nhà không mấy khó khăn. Anh tài xế nhảy xuống đến mở cửa mời anh chị và Bích Hằng xuống xe, rồi mang tất cả bốn cái vali bỏ trong sân nhà. Trọng thấy Bích Hằng cố ý vội vã lấy ví trả tiền xe đúng theo bản giá chỉ tiền của xe là 48.000 đồng. Vợ anh liền cho thêm anh tài xế mười đô la Mỹ và khen anh ấy lái giỏi. Bích Hằng thấy thế đành làm thinh vì biết có nói cũng chẳng được việc gì. Anh tài xế cám ơn chị Xuân Tường và lái xe ra khỏi hẻm rất nhanh.
Bổng cửa sắt sau lưng rít lên và mở toang ra, Diễm Khánh từ trong nhà chạy ầm ra ôm chầm lấy chị Xuân Tường. Hai chị em nghẹn ngào không nói nên lời, đầm đìa nườc mắt.
Để mặc cho hai chị em chới với với cảm xúc của họ, một mình Trọng lần lược bê cả bốn cái vali vào trong nhà.
Diễm Khánh bước lại gần anh, nắm lấy vai anh, ngã đầu trên vai anh, cô ấy bảo:
– Anh lúc nào trông cũng vậy thôi. Có điều tóc bạc nhiều hơn. Được một cái là da dẻ hồng hào. Diễm Khánh lấy tay xoa đầu tóc bạc của Trọng. Cô ấy trông vẻ thật xúc động.
Trọng cám ơn Diễm Khánh và ôm vai Diễm Khánh gần hơn, nói nhỏ vào tai Diễm Khánh, nửa đùa nửa thật:
– Nhờ gần hai mươi năm ăn bơ thừa sữa cặn của Đế quốc Mỹ da dẻ mới được hồng hào như vậy. À, Diễm Khánh dạo này anh điếc nặng lắm. Cô thấy tôi đang máy điếc không? Cô thận trọng đấy. Tôi hay nói chuyện ‘trật đường rầy’! Người đời vẫn thường bảo điếc không sợ súng…
– Anh lúc nào cũng rắc rối, thời buổi này không ai cần nói chuyện với ai bằng súng đạn cả anh đừng có lo.
Chị Xuân tường vội vàng chống chế cho chồng:
– Diễm Khánh! Anh Trọng dạo này già. Nhiều lúc lẩm cẩm, Diễm Khánh hiểu cho.
– Chị Xuân Tường, sao chị lại nói như vậy. Nói xong Diễm Khánh cười lớn.
Bước vào nhà trong, Trọng giật mình, khi thấy bàn thờ họa sĩ Nguyễn Minh, ba của Diễm Khánh. Chí tình, anh chẳng hay biết gì về cái chết của họa sĩ Nguyễn Minh truớc đây. Bất ngờ quá. Anh thật sự xúc động. Anh lăn xăn định hỏi về cái chết của ông ta. Chị Xuân Tường nhìn anh có ý không muốn anh hỏi nhiều về chuyện buồn. Bên cạnh bàn thờ, anh thấy một bàn còn đầy nhang đèn. Diễm Khánh chỉ vào bàn ấy nói:
– Đó là đồ phúng điếu của các ông bạn của ba em gồm có các ông Hội Nhà Văn, các ông Họa sĩ, các ông Nặn tượng, các ông Nhạc sĩ, Bộ Ngọai giao, Sở Ngoại Vụ, và các Ông Lãnh đạo trong Thành phố.
– Các ông ấy phần nhiều là Đảng viên cả, họ cũng đến khấn vái và thắp nhang cho Dượng nữa sao?
– Ai cũng vậy thôi anh. Ai cũng thờ Ông Bà, cũng cúng vái Ơn Trên Trước…
Diễm Khánh vừa nói vừa cuối xuống mặt bàn đầy nhang đèn tìm tờ báo Văn nghệ và lật lật tờ báo tìm bài đưa Trọng xem và cô ấy nói:
– Khi ba em qua đời, ông Tô Hoài, bạn của Ba em, có viết một bài để tưởng niệm ba em.
Lúc đó chị Xuân Tường cũng vừa đến, mặt chị ràng rụa nuóc mắt, chị bảo:
– Để đó đi anh, sau rồi hãy đọc.
Biết ý chị, Diễm Khánh đến lấy một nắm nhang đốt, rồi chia cho Trọng và chị Xuân Tường mỗi ngừơi một nửa. Chị Xuân Tường cầm nhang đưa cao lên khỏi đầu và khấn vái. Vai chị run. Hình như chị đang khóc. Diễm Khánh đứng sau ôm lấy vai chị, ngã đầu vào lưng chị, cùng khóc. Anh cũng đưa nhang lên khỏi đầu và khấn: “Dượng Minh muôn vàn kính mến. Vợ chồng con về thăm quê lần này có ý muốn gặp lại Dượng vì các con cần những lời chỉ giáo của Dượng. Không ngờ Dượng vĩnh biệt gia đình con cháu quá sớm. Vợ chồng con vô cùng tiếc thương Dượng…”. Chợt một bàn tay đặt trên vai anh, khi đó Trọng mới ý thức là Bích Hằng đang đứng sau lưng anh.
Lễ bái xong, chị Xuân Tường đứng xem nhà Diễm Khánh, chị khen:
– Nhà Diễm Khánh đẹp thật. Diễm Khánh có cả bộ bàn ăn cỗ kính, với tám cái ghế cẩm lai. Đẹp tuyệt. Ở Mỹ giàu như Bill Gates chưa chắc có được bộ bàn ăn cỗ kính quí như vậy!
Nghe nói, Diễm Khánh phá lên cười:
– Chắc rồi đấy chị, làm sao một tên tỷ phú Mỹ như Bill Gates, lại có thể có được một bộ bàn ăn làm bằng gỗ quí cẩm lai của ta được!
Nói xong Diễm Khánh ngước lên nhìn Trọng và cười như thách đố. Lúc ấy vô tình Diễm Khánh để lộ cái cổ ra. Cổ Diễm Khánh trắng cao, không gợn một nếp nhăn, thanh tú như đóa hoa huệ. Trọng thầm khen Diễm Khánh vẫn xinh đẹp như thuở nào…
Gần bộ salon cỗ kính bộc bằng da nâu sậm, Diễm Khánh đặt một hệ thống computer với cái máy Compact, máy in màu, một số điện thoại có dây, cầm tay, máy ghi chú v.v…và vài thứ lĩnh kỉnh khác tạo thành một khu vực khá độc đáo. Diễm Khánh cầm tay chi Xuân Tường và chỉ vào khu vực ấy nói:
– Đây là “Headquarter” của em đó. Và cô ấy cười ngất. Nói thật với chị, “tụi này” cần thiết cho em lắm, có nhiều lúc mang đồ ở sở về làm, một mình rị mọ cả đêm.
Nghe Diễm Khánh nói với giọng ngậm ngùi. Xúc động, Trọng hỏi:
– À! Còn Quí dạo này ra sao? Đâu…rồi?
– Đâu rồi? Nghĩa là sao? Diễm Khánh hỏi vặn lại. Anh đã biết em và anh ấy ly dị từ hồi còn ở Hà nội sau khi anh ấy ở Kiev về. Em nuôi con, như anh biết đấy. Bích Hằng vẫn ở với em. Diễm Khánh quay lại vừa nhìn chị Xuân Tường vừa nói:
– Năm 1980, tụi em cũng có ý trở lại với nhau, nhưng anh Quí có nhiều va chạm, đấu tranh với má em, nên tụi em đành thôi, vĩnh viễn chia tay. Rất tiếc, lúc ấy anh chị vượt biên rồi, phải chi lúc ấy anh chị còn
ở lại, hy vọng anh Trọng có thể hàn gắng lại cho tụi này. Em nghe anh Quí nói anh ấy thích Trọng lắm, vì hai người có những tư tưởng rất gần nhau.
– Vâng, Trọng nói, tôi có gặp Quí một lần, đầu năm 1976, tám tháng sau Ngày Tiếp Quản, tại bịnh viện Đa khoa Hậu Giang. Chúng tôi nói chuyện với nhau chỉ có mừơi lăm phút trong phòng giải lao của bác sĩ trực. Lúc ấy Quí có cho tôi biết Quí là chồng của Diễm Khánh, và ăn ở với nhau có được một cháu gái. Quí không hề nhắc đến chuyện ly dị. Lúc đến thăm tôi, Quí xách theo một box lave, mời tôi uống. Tôi rất thích anh chàng ấy. Trông Quí như một tay hảo hớn, cao lớn, nứơc da đen sậm, mắt sáng, quai hàm rộng, quắc thước. Quí cho tôi hay, năm 1954, anh vừa đậu xong Brevet Elementaire tại Saigòn lúc đó anh vừa ngoài 15 tuổi, anh thoát ly theo chú tập kết ra Bắc. Quí là con nuôi của Bác Tôn, vì quê anh cũng là Bến tre. Anh được gửi sang Liên sô học bổ túc láí Mig, hồi giữa năm 71, lúc ấy Diễm Khánh đang có thai. Anh tốt nghiệp giữa năm 72. Lúc ấy cả nước từ Bắc chí Nam, là một chiến trường nóng bỏng. Mỹ oanh tạc đánh phá miền Bắc ác liệt. Vì nhu cầu chiến trường, sau khi tốt nghiệp anh có lệnh đòi về, nhưng anh nhất định không về. Không phải anh ấy sợ độ tàn khốc của chiến tranh, mà sợ Nhà Nước ta lúc ấy đang đánh “Các Ông Xét Lại” dữ dắn quá. Tư tưởng xét lại có gốc Liên Xô, từ thời Krutchev. Với sự đồng tình của Nhà nước Xô Viết, anh được lưu lại Liên Xô, nhưng anh phải đi ở ẩn các Đại học xa Thủ Đô Mạc Tư Khoa, xa tòa Đại sứ Việt nam. Thành phố cuối cùng anh ở là Kiev, phía bắc Liên sô, thuộc tiểu bang Urkraine. Quí có khen thành phố và Đại học Kiev thật xinh đẹp, người Urkraine lịch sự hiếu khách và hòa nhã! Đầu năm 73, hòa ước Paris vừa ký kết, và phong trào Đánh Xét Lại cũng ‘xẹp’ xuống nhiều, anh từ giả Kiev, bay về Hà nội. Cuối tháng sáu, năm 75, vì nhớ Miền Nam, anh lái chiếc xe Molotova, chạy từ Hànội thẳng vô Nam, Sàigòn. Chúng tôi nói chuyện trao đổi với nhau rất là hợp, mặc dầu chúng tôi chỉ gặp nhau trong mười lăm phút. Khi chia tay, chúng tôi nắm chặc bàn tay nhau. Quí nhìn vào mắt tôi và nói: “Au Revoir”. Chúng tôi ôm nhau siết thật mạnh…
– Đúng vậy, Diễm Khánh nói, mặc dầu chúng tôi lúc ấy đã ly dị, nhưng tại có con nhỏ này, cô vừa nói vừa chỉ Bích Hằng, cho nên anh ấy vẫn năng lui tới. Anh Quí là một người đàn ông mà ai gặp một lần cũng mến mộ. Sau khi vô Nam anh ấy chuyển ngành, làm giám đốc của một công ty chế biến, và xuất khẩu hàng may mặc. Sau em, anh ấy có thêm hai đời vợ, bà vợ sau cùng, người Hà nội, chị cũng là kỹ sư, họ quen nhau từ hồi bên Liên Xô. Chồng chị ấy đi B, chết ở Trường Sơn năm 1971. Bây giờ anh Quí già. Cách đây một năm anh bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, anh vẫn ngồi trên xe lăn và sống bằng lương hưu…
Nói đến đây trông cô ấy có vẻ ngậm ngùi, cô nói tiếp:
– Xa anh ấy, em không còn quen với người nào khác.
Và xoay về phía chị Xuân Tường, Diễm Khánh nói:
– Thú thật với chị, trong suốt hơn mười năm qua em không biết đến một người đàn ông là gì. Em với anh Quí xa nhau, không phải lỗi tại ai cả. Tụi em, chỉ là nạn nhân của chiến tranh.
Hình như đến lúc này chị Xuân Tường thấy cần phải chuyển đề tài, nói chuyện vui vẻ hơn. Chị nói với Diễm Khánh:
– Diễm Khánh có một hệ thống Computer khá đầy đủ và rất tốt!
– Bên nhà Bích Hằng cũng có một hệ thống tương tợ như vậy, em định mang hết “tụi đó” qua bên này, để trống chỗ cho anh chị và Tỏa nghỉ ngơi.
Chị Xuân Tường liền bảo:
– Đừng dọn qua, dọn lại làm gì cho mất công! Chị cũng cần hệ thống bên ấy để Email cho Xuân Hảo, Xuân Hợp hay cho Dì Hai, tức là mẹ chị. Chị nói:
– Đi đây chớ Dì Hai bên ấy lo lắm.
Nghe nói tên hai đứa cháu gái của cô, Diễm Khánh liền bảo:
– Nghe nói Xuân Hảo không còn làm về Investment Banking ở Lehman Brothers-New York, cháu tự xin chuyển về San Francisco phải không chị?
Xuân Tường chưa kịp trả lời, Diễm Khánh nói tiếp:
– Nghe nói Xuân Hợp tháo vác lắm phải không? Cô ấy vừa về làm ở Rochester, New york, gần bịnh viện mà Fiancé của cô ấy đi thực tập. Chắc cô ấy thích lắm chị nhỉ?
Chị Xuân Tường vội đỡ lời:
– Vì con nhà nghèo, ở xứ người, nói chung các cháu đều tháo vác. Mà sao Diễm Khánh biết hết mọi chuyện cả vậy?
– Dì Hai, Má chị, tháng trước về thăm nước ở với tụi này, bà nói cho tụi này biết hết. Dì hai thương đám con của chị quá chừng chừng. Lúc Dì hai ở đây với tụi này, thỉnh thoảng Tỏa có gọi điện thoại từ Hà nội, nói chuyện với bà ngoại. “Anh” ấy nói tiếng Việt ngọng mà nói giọng Bắc kỳ nữa! Nói xong Diễm Khánh cười ngất.
Hai chị em nắm lấy tay nhau tung tăng đi xem nhà. Diễm Khánh nói:
– Cái nhà này như chị thấy có hình chữ L. Cánh lớn chữ L là em ở. Cánh nhỏ chữ L là của Bích Hằng. Con gái lớn rồi, cho cô ấy ra tiêng để cho cô ấy có tự do thù tiếp bạn bè. Nhưng anh chị và Tỏa về đây, thì cô ấy về ở ẩn với mẹ. Nói xong hai chị em cùng cười một cách hồn nhiên.
Diễm khánh ghé nói nhỏ vào tai chị Xuân Tường nhưng cũng vừa đủ cho ông anh rể mình cùng nghe:
– Cái nhà này, em mua hồi năm 1987, một trăm hai chục cây đó chị. Má em chi tất cả.
Chị Xuân Tường khen nhà đẹp, trang trí đẹp. Và chị cũng khen Diễm Khánh có óc thẩm mỹ khi chọn mua nhà này. Nhà ở thuộc khu sang trọng.
Diễm Khánh cười sung sướng và cám ơn chị Xuân Tường. Chợt Diễm Khánh nói:
– Mới đây mà đã năm giờ chiều rồi. Tụi mình hè nhau mang tất cả 4 cái vali này qua bên anh chị. Bên anh chị có hai phòng ngủ, bên tụi này cũng có hai phòng ngủ. Nhưng bên anh chị có máy lạnh, có bồn tắm, có douche nuớc nóng và nước lạnh. Bên anh chị được tân trang nhiều. Còn bên em chưa được tân trang, mặc dầu nó rộng hơn, hệ thống nhà tiêu nhà tắm vẫn giử nguyên như cũ, vẫn cái siège de Turque, cỗ lỗ sĩ, không phù hợp với anh chị đâu. Ông bà qua bên đó nghĩ ngơi cho khoẻ. Đúng 7 giờ mời ông bà qua bên này dùng bửa cơm dưa muối với nhà nghèo. Câu mời mọc khiêm tốn và khôi hài của Diễm Khánh làm cho vợ chồng Trọng và cả Diễm Khánh cùng cười…
Nhìn đồng hồ chỉ đúng 7 giờ, thấy vợ còn đang hong tóc, Trọng bảo:
– Nhanh lên em, đừng để ‘họ’ đợi…
– Anh còn dám gọi Cách mạng là ‘họ’ đấy à?
Chị Xuân Tường vừa nói vừa cười, nửa đùa nửa thật:
– Anh còn nhớ, anh có nói với em, năm 75, anh bị phê bình vì anh sơ ý, trong buổi giao ban anh gọi Cách mạng là ‘họ’. Lúc ấy anh không bị kiểm điểm, kiểm thảo gì cả, là nhờ có bác sĩ Út Ngôn, anh ấy cũng người Nam, anh ấy cũng quí anh nữa. Nhưng bây giờ anh vẫn thấy đó: chế độ vẫn chế độ công an, tai vách mạch rừng.
– Câu chuyện ấy lâu rồi gần một phần tư thế kỷ! Mà anh chỉ gọi mẹ con Diễm Khánh là “họ”, anh có gọi ai khác đâu…
– Nói cho anh nghe vậy, anh đừng có buồn. Một phần tư thế kỷ rồi mà họ có xê dịch gì không? Không hiểu trong bửa cơm chiều nay, ngoài vợ chồng mình còn có vị ‘quan khách bất ngờ’ nào không? Anh rán giử ý, giử tứ, thận trọng cho anh, cho vợ, cho hai mẹ con Diễm Khánh …nghe anh…
Qua nhà Diễm Khánh, anh chị chưa kịp gỏ cửa, cửa đã mở. Ngọc Tới đứng nép người sang một bên chào vợ chồng anh chị. Chợt nhìn thấy Ngọc Tới, vợ chồng anh ngẫn ngơ. Khí sắc của Ngọc Tới sụp đổ đến độ dị thường: tóc rụng xác xơ, răn cái có cái không, ngưởi cô ấy mập và phì ra như phù thủng, da nhợt nhạt, trông như một bịnh nhân trong thời kỳ chịu ảnh hưởng ung-thư-trị-liệu. Chị Xuân Tường tiến đến nắm hai tay của Ngọc Tới, người em bạn dì của chị, chị ruột của Diễm Khánh. Hai chị em cùng ôm nhau khóc. Mặc dầu mẹ vợ anh, về thăm nước cách đây một tháng, khi trở về Mỹ, bà có nói trưóc cho vợ chồng anh chị hay về sự thay đổi khí sắc của Ngọc Tới. Nhưng anh nghĩ đâu thể nào có sự thay đổi đến mức độ tiều tụy như vậy. Anh tin chắc rằng, không có một nguyên nhân ngoại lai nào có thể làm cho Ngọc Tới xuống dốc đến độ như vậy, ngoại trừ sự xâu xé chính nội tâm của Ngọc Tới.
Trọng biết Ngọc Tới và chồng là Dươc cao Năm Hoàng hai tuần sau ngày tiếp quản Cần thơ 1975, tại bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa. Lúc ấy Ngọc Tới là người phụ nữ trí thức, đẹp sang trọng trong hàng ngũ Cách mạng, tại khu 9, Hậu giang. Sau này, Trọng thường nói với Họa sĩ Nguyễn Minh, thân phụ của Ngọc Tới và Diễm Khánh lúc ông còn sinh thời: “Diễm Khánh là Liz Taylor của Mỹ, Ngọc Tới là Trà Giang của Việt nam”. Nhưng Ngọc Tới có suy tư sâu sắc; có cái nhìn thấu suốt lịch sử mười năm, hay hai mươi năm sau. Sau khi tiếp xúc vời vợ chồng Ngọc Tới trong vài tuần lể, anh thấy ở Ngọc Tới có một nội tâm dữ dội, chuyển hóa không ngừng. Nhũng gì anh thấy ở đất nước hôm nay, chứng tỏ rằng những điều Ngọc Tới suy nghĩ cách đây gần hai mươi năm là đúng.
Bước vào nhà trong, Ngọc Tới đến ôm vai anh và nói sát vào tai anh:
– Em về hưu non lâu rồi anh.
– Dì Hai về Mỹ, có nói cho tôi biết điều đó.
– Em cũng tự ý xin ra khỏi Đảng rồi anh.
– Ngọc Tới nói sao? Khỏi phải đi hop sinh hoạt đảng nữa?
– Đi họp làm gì? Em tự ý rút. Cách đây sáu tháng, người ta có yêu cầu em trở lại Đảng, và bằng giấy trắng mực đen người ta có cho em biết rõ, nếu những ai về hưu mà còn giữ Đảng tịch thì được miễn đi họp sinh hoạt Đảng. Nhưng em không. Dứt khoát, không trở lại Đảng.
Câu chuyện giữa Ngọc Tới và Trọng làm không khí có vẻ căng, Trọng bèn chỉ vào bàn ăn và nói lớn:
– Mấy con cua lột sao mà to thế. Không hiểu quí vị nấu nướng chúng với kỹ thuật tân kỳ như thế nào mà trông chúng đẹp lạ thường, như chúng đang mặc áo giác vàng! Anh châm bẩm nhìn vào đĩa tôm luột đặt ở giữa bàn bốc hơi. Những con tôm to mập no tròn căng cứng màu hồng trông thật là mọng. Bên cạnh là những đĩa muối tiêu, những đĩa tương ớt màu nâu, vàng, đỏ, những miếng chanh xanh cắt sẳn chờ đợi và những tép tỏi Phanrang thơm nồng. Tất cả hương sắc và bụng đói tạo cho anh háo hức thèm ăn lạ thường.
Hiểu được anh, chị Xuân Tường bảo:
– Nhìn kìa! Tên Việt kiều ở Mỹ về đói ăn trông mà thảm hại.
Cả nhà ai cũng cười! Ngọc Tới bảo:
– Ở nước ngòai về ai cũng đói ăn cả, nhưng họ chỉ đói ăn những món đặc sản của quê hương. Anh Trọng, anh nhìn vào đầu bàn bên kia mà anh sẽ ngồi vào, bên gốc tay phải của anh có tô “cá rô kho tộ”. Món Cua lột, tôm luột là của mẹ con Diễm Khánh làm; còn món “cá rô kho tộ” là chính tay em làm.
– Thật đấy anh Trọng! Diễm Khánh bảo, món “cá rô kho tộ” là món do chị Ngọc Tới làm từ trưa đến giờ đặc biệt dành cho anh đó.
Trọng đến sờ vào siêu “cá rô kho tộ” còn ấm nóng. Anh đưa siêu “cá rô kho tộ” lên tận mũi để thưởng thức hương vị quê hương miền Nam. Anh nhớ ơn Ngọc Tới vô hạn. Chợt anh thấy trên đĩa dưới đáy siêu một mảnh giấy nhỏ. Anh cầm lên đọc. Đó là bài thơ đưọc chép tay lại, nét chữ của Ngọc Tới. Đọc bài thơ, hốt nhiên anh nhận ra đó là bài thơ của anh, viết cách đây gần hai mươi năm.
Hôm ấy, ngày 2 tháng Tư, năm 79, vợ chồng Trọng có mời vợ chồng Ngọc Tới đi ăn ở cái quán ăn “xập xệ” ở bến Ninh kiều, chợ Cần thơ. Tuy nhìn là “xập xệ” như vậy, vì Cách mạng vào ai cũng muốn tỏ ra mình là biết giác ngộ bằng cách “xập xệ”; thật sự quán này là quán ăn nổi danh, có nhiều món đặc biệt của Hậu Giang. Trước bảy mươi lăm, anh và bạn bè của anh, các bác sĩ ở Cần Thơ, gọi quán này là “Danh Trấn Giang Hồ Miền Tây”. Khi vào quán, anh chị có nói với vợ chồng Ngọc Tới ở đây có nhiều món ngon và lạ, quí vị cứ gọi cho bằng thích. Vợ chồng Ngọc Tới, và chi Xuân Tường gọi đủ thứ có cả cháo rắn hổ, cà ri rùa-cua-đinh…Riêng anh, chí thú có một món: “cá rô kho tộ”.
Hôm ấy, Ngọc Tới có phê bình anh:
– Anh này, ngay cả ăn uống anh cũng cục bộ. Anh chí thú có một món cơm trắng và “cá rô kho tộ”. Khi nào xa chắc có nhớ về Cần Thơ, anh chỉ nhớ món này thôi. Rồi cô ngâm nga câu ca dao: “Cần thơ gạo trắng nước trong ‘…
Chiều hôm ấy, ngồi trong hiên quán, ngoài trời mưa rã rích, phố xá tiêu điều, bây giờ mới có sáu giờ chiều đời sống như ngưng đọng lại. Một vài con ruồi đậu phía ngòai cửa kính nhọc mệt kéo lê đôi cánh ướt át, để lại những vết nhớp nhúa trên mặt kính. Chỉ còn hai mươi mấy ngày nữa là Cách mạng về với Cần thơ đúng bốn năm tròn. Trong suốt bốn năm dai dẳng ấy biết bao nhiêu đổi thay tang thưong đi qua thi trấn miền Tây này. Cần thơ ngày càng co lại, ngày càng khốn khó hơn. Những hân hoan chào mừng Cách mạng ngày 30/4/75 phụt tắt rất nhanh. Người ta thấy những vết hằn ngày càng sâu hơn, càng quằn quại hơn cày nát trên những gương mặt buồn thảm của những người vợ trẻ, những bà mẹ già có chồng có con đi tù học tập cải tạo không ngày về. Ngay các cán bộ tập kết về họ cũng ngậm ngùi cho thân nhân họ bị vùi dập đày ải trong các trại cải tạo. Ngòai trời, hoàng hôn một màu xám xịt đang phủ xuống mặt đường. Trọng nhớ lại chỉ còn mấy ngày nữa anh đưa gia đình ra khỏi nơi này, và đi về một nơi vô định. Cần Thơ, nơi anh phục vụ gần cả đời người, mười năm anh hành nghề bác sĩ phẩu thuật tại đây, và cũng là nơi vợ anh đã hạ sinh ba đứa con của anh. Nghe tiếng mưa rơi trên hiên quán, như tiếng điểm thời khắc qua nhanh, tiếng gọi của vùng trời xa xâm nào, ở đó có sự rũi may đang chờ đợi anh. Vớ được mảnh giấy xi măng trên bàn bên cạnh, anh liền viết mộ bài thơ ngắn trong lúc anh thật sự xúc động. Sau bữa ăn, lúc tiển vợ chồng Ngọc Tới về, anh nhét vội bài thơ trong túi áo mưa của Hoàng, chồng của Ngọc Tới. Hôm nay gặp lại bài thơ, những sóng gió đổi thay cuộc sống của anh ở đây gần hai mươi năm về trước hiện về đậm đặc từng nét…Trọng đọc lớn bài thơ ấy cho cả nhà nghe…Chị Xuân Tường muốn biết bài thơ ấy của ai? Trọng kể lại sự tích bài thơ. Chi Xuân Tường la lớn:
– Ồ! Lạc điệu và cũ quá rồi! Phải không bà con!
Cả nhà cùng cười. Ngọc Tới nhắc lại bài thơ nguyên bổn và mảnh giấy xi măn anh Hòang vẫn còn giử, đây chỉ là bản chép tay của Ngọc Tới.
Sau bài thơ, các bà ngồi chùm nhum lại, chuyện thầm thì, hết chuyện này sang chuyện khác, chuyện của các bà dài hơn hai mươi năm. Riêng anh, đói meo cả ruột. Thấy tám giờ tối rồi mà chẳng thấy ai đếm xĩa gì đến ăn uống cả, Trọng giơ tay định bốc đại một con tôm. Chị Xuân Tường la lớn:
– Ơ! Hay thật! Anh có biết đợi chờ là gì không?
Diễm Khánh thấy ông anh rể mình bị quê, cô liền nói đùa:
– Chắc trước kia lúc chưa cưới, chị cho anh ấy đợi dài dài…
– Cưới hay chưa cưới gì cũng vậy, lúc cần thì cho ông ấy ngóng dài cả cổ ra. Nói xong câu ấy chị Xuân
Tường thích thú, cười rũ rượi…
Chợt có tiếng động ở cửa trước. Một bà cụ bước vào, mái tóc bạc như bạch kim, bà chống gậy, đi vững và chậm. Bên cạnh bà là một thanh niên chừng 18, 19 tuổi. Thọat nhìn, Trọng biết ngay đó là Dì Quới, mẹ của Ngọc Tới và Diễm Khánh. Tất cả mọi người đều chạy đến và đưa tay nắm lấy tay bà, để dìu bà đi cho vững hơn. Tất cả đều bị bà từ chối và gạt ra, bà nói lớn:
– Để tôi được Độc lập! Không có gì quí hơn Độc lập, phải không bác sĩ Trọng?
– Thưa Dì đúng vậy! Trọng liền đáp.
Bà đi chậm nhưng rất vững. Trọng thấy Ngọc Tới, Diễm Khánh, Xuân Từơng và cả Bích Hằng đi sát bên cạnh bà, nhưng không ai đưa tay cầm lấy tay bà. Trọng tiến đến, đưa tay cầm lấy tay bà và đưa bà vào ngồi chỗ đầu bàn. Anh xin lỗi bà là vợ chồng anh chưa kịp đến hầu thăm bà, và anh cũng xin chuyển đến bà lời chào hỏi của nhạc mẫu của anh, chị ruột của bà, và lời cầu chúc sức khoẻ của bà…
Bà Dì Quới đáp:
– Tôi cám ơn Bác sĩ. Chị tôi có phúc lớn có rể quí là Bác sĩ, tận tình phục vụ và chăm sóc cho chị tôi khi bà lưu vong ở đất nước người. Còn Bác sĩ lúc nào cũng ngon lành cả. Dưới thời Việt nam Cộng Hòa anh là Bác sĩ; Việt cộng vào anh cũng là Bác sĩ; qua Mỹ qua miết tít mù, anh cũng là Bác sĩ! Cách đây mươi hôm, một bà Trung tá của mình Sàigòn xưa đến thăm tôi, cho tôi biết là chồng bà bị bịnh tâm thần gọi là ‘Hội Chứng Hậu Chiến’gì đó, nghĩa là khi đi tù cải tạo bị mấy ông Cách mạng Cộng sản hành hạ vùi dập dữ quá. Gọi là rữa não mà. Nghe bà ta nói chồng bà và một số sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa cũng ở trong trình trạng như vậy hiện đang được Bác sĩ Trọng điều trị và tư vấn tâm thần tại Chicago. Bà đâu có ngờ ngờ bác sĩ Trọng là con rể nhà này. Nhưng ngon lành nhất, là lúc nào bác sĩ cũng có cô vợ đẹp ở bên cạnh.
– Thưa Dì, về đời, con thật là may mắn! Với Xuân Tường con thật là tốt số! Nhưng thưa Dì ngày xưa Dì đâu có đồng ý cho Xuân Tường lấy con.
– Ah! C’est vrai. Đúng vậy. Thôi bỏ chuyện cơm cũ. Chacun a son sort! Bây giờ đến lược tôi phải xin lỗi quí vị là tôi đến trễ, ai cũng đói cả rồi. Thôi mời tất cả ăn đi thôi. À, Bác sĩ Trọng, cậu con trai ngồi bên tay phải của anh đó là Tự, con của Ngọc Tới. Anh biết và ai cũng biết, Tự là tên của Ba của Xuân Tường, tên của anh Hai, anh rể của tôi. Vì kính mến anh Hai, cho nên vợ chồng Ngọc Tới lấy tên anh Hai đặt cho con. Họ là Cách mạng mà. Mình thì kị húy, kị tên, không dám gọi tên ông bà ông vải; còn họ thì càng thương càng yêu, càng gọi to, càng réo lớn. Nhiều lúc tung hô: muôn năm, muôn năm… nghe phát sợ!
Bích Hằng, Tự và Trọng, ngồi đầu bàn bên này. Bà dì Quới, chị Xuân Tường, Ngọc Tới và Diễm Khánh ngồi đầu bàn đối diện. Nhìn bà Dì Quới chăm sóc chi Xuân Tường trong bửa ăn, Trọng thật sự cảm động. Bà biết từng sở thích nhỏ của chị Xuân Tường, từng cọng hành tép tỏi. Bà nói lớn cho Bích Hằng, Ngọc Tới và Diễm Khánh nghe:
– Xuân Tường không ăn được cua có vỏ. Cô ấy chỉ ăn cua lột thôi. Con gái rượu của ông Chánh án mà. Đáng kiếp cô thôi. Bỏ chạy sang Mỹ miết tít mù, làm lụng khổ sở làm sao mà có thể mua được cua lột cho cô ăn. Đáng đời cô. Để cô biết đá vàng…
Xuân Tường là đứa cháu gái con của anh Hai, chị Hai, mà bà Dì Quớí thương yêu nuông chiều nhất. Hơn hai mươi lăm năm về trước, lúc ấy Ngọc Tới và Diễm Khánh theo cha tập kết còn ở ngòai Bắc, có lần Bà Dì Quới xin anh Hai, chị Hai cho Xuân Tường qua “ở hẳn bên bà”. Mặc dầu không được toại nguyện, bà vẫn được Xuân Tường lui tới hôm sớm với Bà. Lúc ấy Xuân Tường hoàn toàn thay thế hình ảnh của
Ngọc Tới và Diễm Khánh trong tâm hồn bà Dì Quới! Năm 1970, Trọng đi hỏi chị Xuân Tường lảm vợ, Bà là người duy nhất trong gia đình không đồng ý gả chị Xuân Tường cho anh. Lập luận cơ hữu nhất của Bà: “con nhỏ mới có 17, 18 đem gả cho tên Trung kỳ già ngắt”

.
(Còn tiếp phần 2)
.
Đào Như

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Nguyễn Du)