Kate Wilhelm (1928 – 2018) là nữ sĩ Mỹ nổi tiếng, từ thập niên 1950s khi bắt đầu viết. Tác phẩm bà gồm nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn loại trinh thám, giả tuởng khoa học….Cùng với chồng Damon Knight, hai nguời có ảnh huởng nâng cao giá trị thể loại giả tuởng khoa học qua các lớp huấn luyện văn chuơng. Bà nhận đuợc nhiều giải thuởng.
Truyện Forever Yours, Anna (Mãi Mãi Yêu Em, Anna) đuợc giải Nebula 1987 Truyện Ngắn Hay Nhất.

Truyện có vẻ bình thuờng về một mối tình lãng mạn, yêu nguời chỉ do tuồng chữ, và yêu tuyệt đối, bằng lòng chờ đợi cho nguời yêu lành vết thuơng sau một mơ tuởng không thành ngắn ngủi, miễn sao nàng hạnh phúc, sinh động. Tình yêu thắng mọi trở ngại. Tuy nhiên dẫn truyện với kết cục bất ngờ làm độc giả thích thú, và cuối cùng còn ngỡ ngàng truớc chồng chéo thời gian: truyện giả tuởng ở chỗ có đi xuyên vào thời gian tuơng lai.

(Phạm đức Thân dịch Việt ngữ từ nguyên bản Anh ngữ của Kate Wilheim)

.

Anna bước vào đời anh một chiều xuân, không mời mà cũng chẳng muốn. Hôm đó Gordon mở cửa văn phòng đón một khách hẹn thì thấy có người thứ hai cũng đang ngoài hành lang. Người thứ hai mang Anna đến cho anh, mặc dù anh chưa biết điều này. Lúc đó anh chỉ nói, “Chào ông?”
“Ông Gordon Sills? Tôi không có hẹn, nhưng…tôi đợi được không?”
“Tôi e rằng tôi không có phòng đợi.”
“Không sao, tôi đợi ngoài này được.”
Ông khoảng 50, trông sang trọng. Điều này thấy rõ ở bộ đồ mầu xám tro, cavat lụa mầu xanh xám chọn lọc, thân truớc sơmi bằng lụa. Gordon đoán chừng toàn cả áo sơmi cũng bằng lụa. Anh cũng đoán đá quý trên ngón tay là ngọc bích thật, ít nhất 3 carat. Có vẻ phô truơng.
“Vậy nhé,” Gordon vừa nói vừa đưa khách kia vào trong. Họ đi qua một phòng tới chỗ văn phòng làm việc. Văn phòng ngăn cách với phần còn lại của phòng bởi 3 bình phong bằng giấy thông thảo vẽ thư pháp chữ Tầu đẹp. Khu vực văn phòng có 1 bàn giấy và 2 ghế dựa cho khách, ghế của anh và một tủ đầy ngật sách, sách nằm cả dưới sàn nhà truớc tủ.
Công việc chỉ mất nửa giờ; khi khách rời, ngoài hành lang trống vắng, không có ai. Gordon nhún vai, trở lại chỗ làm việc. Anh kéo cái điện thoại trên bàn và quay số của vợ cũ, đợi nó reo hơn chục lần rồi gác máy.
Anh dựa lưng vào ghế và dụi mắt. Ánh nắng xế chiều muộn màng chiếu qua khe những thanh cửa lá sách làm thành ánh sáng ngựa vằn. Anh nghĩ nên đi ra ngoài một ít lâu. Chỉ việc đóng cửa văn phòng và bước khỏi nó cho tới khi bắt đầu nhận được giấy báo rút tiền chi trội. Ba tuần, anh tự nhủ, là thời gian để nhận giấy báo.
Gordon Sills 35, một chuyên gia hàng đầu về phân tích tuồng chữ và có thể giầu, vợ cũ vẫn thường hay nhắc nhở anh. Nếu anh không thành đạt truớc 40, nàng cũng bảo, rất thường là anh sẽ chỉ không còn làm được nữa. Anh đã không để ý, đơn giản là không quan tâm về tiền bạc, an toàn, hậu vận mình, tương lai con cái.
Anh chợt đẩy người khỏi bàn và rời văn phòng, sang phòng khách. Giống như văn phòng, nó bừa bộn, báo cũ đã mấy ngày, nửa tá sách, tạp chí vứt đây đó. Theo con mắt anh nó trông thoải mái, đem lại dễ chịu; anh không tin vào ngăn nắp ở nhà. Karen có được hầu hết đồ đạc; anh chỉ lấy đi 1 cái ghế, 1 ghế nệm dài, 1 đèn bàn, 1 bàn coffee gỗ sồi đã xây xát anh có thể gác chân lên đó, 1 bàn chơi bài và mấy cái ghế cho bếp. Và 1 radio rất tốt. Thế là đủ. Vài tranh phong cảnh Nhật đẹp trên tường.
Chuông reo. Khi anh mở cửa, ông khách sang trọng không mời ở đó. Ông cầm một cái cặp bằng da lộn mềm.
“Chào ông,” Gordon nói. “Tôi tưởng ông đã đi khỏi.”
“Tôi có rời thực và trở lại.”
Gordon đón ông vào, dẫn qua phòng tới chỗ làm việc, và chỉ tay về phía 1 cái ghế, còn anh đến sau bàn ngồi xuống. Nắng chiều không còn, do bị che khuất bời tòa nhà bên kia đường Amsterdam.
“Tôi xin lỗi đã không hẹn truớc,” khách nói. Ông rút ví khỏi túi ngực, lấy ra một danh thiếp, và đẩy nó qua bàn. “Tôi là Avery Roda. Nhân danh công ty tôi, tôi muốn ông cố vấn về giấy tờ chúng tôi hiện có.”
“Đó là nghề của tôi,” Gordon nói. “Công ty ông tên gì, ông Roda?”
“Draper Fawcett.”.
Gordon gật gù chậm rãi. “Và chức vụ ông?””
Roda trông có vẻ không vui, “Tôi là phó chủ tịch phụ trách nghiên cứu và phát triển, nhưng hiện giờ tôi đảm trách một cuộc điều tra đang tiến hành. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là tìm một người chuyên nghiệp như ông. Ông đã được giới thiệu đánh giá cao, ông Sills.”
“Truớc khi chúng ta bàn tiếp,” Gordon nói, “Tôi nên báo truớc rằng có một số lãnh vực tôi không thích làm. Ví dụ, tôi không nhận những vụ truy tầm phụ hệ. Hoặc các vụ ăn cắp vặt giữa thợ – chủ.”
Roda hơi ửng đỏ.
“Hay thư hăm dọa,” Gordon ôn tồn kết thúc. “Đó là tại sao tôi không giầu, nhưng sự thật là vậy.”
“Vấn đề tôi muốn nói đây không nằm vào các trường hợp trên,” Roda cắt ngay. “Ông có đọc tin về vụ nổ xẩy ra tại nhà máy của chúng tôi ở Long Island hai tháng truớc?” Ông không đợi Gordon trả lời. “Chúng tôi đã mất một nhà khoa học rất giỏi, một trong những người giỏi nhất nước. Và chúng tôi không thể xác định chỗ của những giấy tờ, ghi chú của anh ta. Anh ta có dính líu với một phụ nữ người có thể đang sở hữu chúng. Chúng tôi muốn tìm nàng, thu hồi chúng.”
Gordon lắc đầu. “Vậy thì ông cần công an, thám tử tư, lực lượng an ninh của chính ông.”
“Ông Sills đừng đánh giá thấp quyết tâm và nguồn nhân vật lực của chúng tôi. Chúng tôi đã huy động tất cả vào việc, và không ai có thể xác định nàng ở đâu. Tuần truớc chúng tôi đã họp và quyết định thử đường lối này. Chúng tôi cần ông phân tích thật đầy đủ với khả năng hết sức của mình, dựa trên dạng chữ viết tay của nàng. Việc này có thể đem lại kết quả.” Giọng điệu ông cho thấy ông không tin tưởng nhiều lắm.
“Tôi đoán bản văn đã không giúp được gì.”
“Ông đoán đúng,” Roda nói pha chút cay đắng. Ông mở cặp, rút ra một xấp giấy và đặt lên bàn.
Từ phía nguợc lại Gordon có thể thấy rằng chúng không phải là bản gốc mà là bản chụp. Anh đưa mắt chăm chú đảo trên các thư úp sấp và lắc đầu. “Tôi phải có thư thực để làm việc.”
“Không thể được. Chúng đang được cất giữ khóa kỹ lưỡng.”
“Ông có đưa nước pha mầu cho người thử rượu vang không?” Giọng Gordon trách móc, nhưng anh không thể ngưng dán mắt. Anh với tay qua bàn và lật ngửa mặt phải lên để nghiên cứu chữ ký, Anna. Viết đẹp, ngay cả trên bản chụp đen sậm nó trông tinh tế, nghệ thuật như bất cứ thư pháp chữ Tầu nào trên bình phong của anh. Anh ngước lên thấy Roda đang chăm chú quan sát anh. “Chỉ vậy thôi tôi có thể cho ông biết đôi điều, nhưng tôi phải có bản gốc. Để tôi cho ông thấy hệ thống an toàn của tôi.”
Anh dẫn sang phía kia phòng. Nơi đây anh có 1 bàn dài làm việc, sáng rõ, quá khổ, 1 máy ảnh sao chụp , các kính phóng đại, hồ sơ. Một máy computer và máy in trên cái bàn thứ hai. Tất cả ngăn nắp, sạch sẽ một cách chi ly.
“Hộp hồ sơ chống được hỏa hoạn,” anh nói khô khan, “và két sắt cũng vậy. Ông Roda, nếu ông đã tìm hiểu kỹ tôi, ông biết tôi đã xử lý vài tài liệu vô giá. Và tôi đã giữ chúng ngay tại đây trong văn phòng. Ông hãy để bản chụp lại. Tôi có thể bắt đầu với chúng, nhưng ngày mai, tôi cần bản gốc.”
“Két sắt đâu?”
Gordon nhún vai, đi lại computer, đánh mật hiệu, và bước tới bức tường sau bàn làm việc, đẩy sang bên một tấm ghép, để lộ mặt truớc một két sắt. “Tôi không có ý định mở két cho ông thấy. Không cần phải vậy, ông thấy thế đủ rồi.”
“Computer an toàn?”
“Phải.”
“Tốt lắm. Ngày mai tôi sẽ gửi ông bản gốc. Ông bảo ông đã có thể cho chúng tôi biết đôi điều”
Họ trở lại chỗ văn phòng. “Ông truớc hết,” Gordon vừa nói vừa chỉ tay về phía lá thư nằm trên cùng. “Ai kiểm duyệt chúng?”
Những thư đã bị cắt bỏ ngay chỗ mở đầu chào, và suốt trong thư có những đốm trắng xóa hình chữ nhật.
“Chúng như vậy khi chúng tôi tìm thấy chúng,” Roda nói nặng nhọc. “Hẳn là chính Mercer đã làm vậy. Một thám tử của chúng tôi bảo các lỗ thủng đã được cắt bằng dao cạo râu.”
Gordon gật đầu. “Càng lúc càng lạ kỳ. Thôi được, tới lúc này điều đáng nói là nàng nhiều phần chắc là một nghệ sĩ. Đoán đầu tiên của tôi, nàng là một họa sĩ.”
“Ông có chắc không?”
“Đừng có ngờ ngệch như thế! Tất nhiên tôi không thể chắc chắn, với bản chụp để làm việc. Đó chỉ là một phỏng đoán. Tất cả những gì tôi báo cáo sẽ là phỏng đoán. Phỏng đoán được huấn luyện đàng hoàng, ông Roda, đó là tất cả những gi tôi có thể bảo đảm.”
Roda ngả mình xuống ghế và thở ra một hơi dài. “Cần phải mất bao lâu?”
“Có bao nhiêu thư?”
“Chín.”
“Hai, ba tuần.”
Thật chậm rãi, Roda lắc đầu. “Chúng tôi đang tuyệt vọng, ông Sills. Chúng tôi sẽ trả gấp đôi thù lao thường lệ nếu ông có thể chuyên chú toàn diện vào chuyện này.”
“Còn hợp tác của ông thì sao?”
“Ông muốn nói gì?”
“Cả tuồng chữ viết tay của anh ta nữa. Tôi cần xem ít nhất bốn trang viết tay của anh ấy,”
Roda trông ngẩn ra không hiểu
“Nó giúp hiểu rõ nàng nếu tôi biết thư từ của nàng.”
“Thôi được,” Roda nói.
“Anh ta bao nhiêu tuổi?”
“Ba mươi.”
“Tốt. Còn điều gì ông có thể bảo tôi?”
Roda hình như đang trầm tư, mắt nhíu lại, im lặng vây quanh ông gợi cho thấy ông đang suy nghĩ lung lắm. Giật mình thấy rõ, ông ngước lên nhìn, gật đầu. “Điều ông nói về nàng có thể đã thật quan trọng. Trong một thư nàng có nhắc đến một trình diễn. Chúng tôi đã đoán chừng nàng là vũ viên, gái trình diễn, đại loại như vậy. Tôi sẽ cử người lo ngay chuyện này. Một nghệ sĩ. Có thể đúng vậy.”
“Ông Roda, ông có thể cho biết thêm điều gì khác nữa không? Các giấy tờ này quan trọng thế nào? Chúng có thể mua bán? Có ai ngoài công ty ông có khái niệm về giá trị của nó?”
“Chúng hoàn toàn có giá trị”, ông nói giọng nghe không rõ đến mức Gordon hầu như phải vểnh tai lên chú ý. “Nếu chúng tôi không thu hồi được chúng trong một thời gian tương đối ngắn, chúng tôi sẽ phải lôi FBI vào cuộc. An ninh quốc gia có thể bị phương hại. Đã hẳn là chúng tôi muốn chính mình thu xếp chuyện này.” Ông kết thúc với cùng giọng điệu đều đều. “Tôi chắc chắn người Nga sẵn lòng trả bạc triệu để có được chúng. Chúng tôi sẽ trả bất cứ giá nào cần phải trả. Nàng có chúng. Nàng bảo vậy trong một bức thư. Chúng tôi phải tìm cho ra người phụ nữ này.”
Có lúc Gordon đã xét đến chuyện từ chối công việc này. Phiền phức, anh nghĩ. Phiền phức thực sự. Anh lại liếc lá thư nằm trên cùng, chữ ký Anna, và anh nói, “Được. Tôi có sẵn một bản khế ước thường dùng…”

 

Sau khi Roda rời khỏi, anh nghiên cứu 1 bức thư trong vài phút, không đọc, thật ra lật sấp nó xuống lại để quan sát, và anh nói khẽ, “Chào Anna.”
Rồi anh gom tất cả các thư bỏ vào một hồ sơ đem cất trong két sắt. Anh không định khởi sự làm việc nếu chưa có bản gốc. Nhưng Roda thì cảm thấy an tâm dễ chịu khi tin rằng anh đã bắt đầu công việc.
Roda gửi bản gốc và vài mẫu chữ viết của Mercer đến truớc trưa hôm sau, và trong 3 giờ Gordon nghiên cứu tất cả giấy tờ. Anh đặt thư nàng trên bàn làm việc dưới ngọn đèn cổ ngỗng, xoay kiểu này kiểu kia, chưa đọc chúng, thỉnh thoảng ghi chú. Như anh đã đoán, nét chữ nàng thanh tú, tinh tế, sắc thái đậm lợt đẹp. Nàng dùng bút thật, mực thật, không phải bút đầu nỉ hay bút bi. Mỗi nét trông vừa mắt, tự nó đã có tính nghệ thuật. Một thư dài 3 trang, 4 thư 2 trang, những thư khác 1 trang. Không thư nào có ngày tháng, địa chỉ, tên đầy đủ. Anh nguyền rủa người đã cắt xén chúng. Anh lật từng thư một để khảo sát mặt sau và ghi ngắn gọn: “Áp lực – nhẹ tới trung bình.” Những ghi chú khác cũng ngắn: “Lưu loát, nhanh, không ước lệ; tỷ lệ dạng chữ 1:5.” Đó là sắc thái Âu châu và anh không nghĩ nàng là dân Âu châu, nhưng sẽ phải xem xét kỹ chuyện này. Mỗi ghi chú chỉ đơn giản là dấu hiệu hướng dẫn, ấn tượng ban đầu. Anh vừa làm việc vừa huýt sáo vu vơ, và giật mình khi chuông điện thoại reo.
Đó là Karen, sau cùng hồi đáp mấy lần anh gọi. Các con sẽ tới khoảng 6 giờ, và anh phải trả chúng về nhà 7 giờ tối Chủ Nhật. Giọng nàng lãnh đạm như thể đang ra lệnh bỏ quần áo giặt vào máy. Anh nói được rồi và cúp máy, ngạc nhiên thấy mình chẳng cảm giác gì về chuyện này. Truớc đây mỗi lần họ nói chuyện, anh cảm thấy nỗi đau chia ly; anh thường thắc mắc: Nàng ra sao? Nàng có làm việc không? Nhà cửa có ổn định không? Nàng giữ căn nhà ở Long Island và anh thấy cũng được thôi, chẳng sao, vì dù gì trên 10 năm qua anh đã sống càng ngày càng lâu xa trong thành phố. Tuy nhiên, họ đã cùng nhau mua căn nhà, anh đã sửa chỗ này chỗ kia, dựng những bức ngăn, rồi dẹp bỏ, vất vả với hệ thống ống nước.
Tối đó anh đưa 2 con tới một nhà hàng Hy Lạp. Buster, 8 tuổi, nói nó gớm ghiếc; Dana, lên 10, bảo Buster trẻ con và Gordon phải chặn chúng không cho cãi nhau, bằng cách nói rằng anh đã mua một bàn chơi Monopoly mới. Dana bảo Buster ham mê tranh thắng. Dana trông rất giống mẹ, nhưng Buster mới thừa kế dòng máu của mẹ. Karen luôn luôn muốn chiếm phần thắng.
Họ tới bảo tàng Cloisters và tưởng tượng những chuyện thời trung cổ; họ lại chơi monopoly, và Chủ Nhật anh đưa chúng đi xem trình diễn múa rối ở Met, rồi lái xe trả lại chúng về nhà. Anh mệt phờ người. Khi anh trở về anh nhìn quanh, chán nản hết sức. Đĩa bát bẩn trong bồn rửa, trên bàn, ngoài phòng khách. Buster đã ngủ trên ghế nệm dài và quần áo ngủ, chăn đắp vắt trên ghế. Karen bảo chúng đã lớn quá rồi, không thể ngủ chung nữa. Phòng Dana ngủ cũng bừa bãi tứ tung. Nó để lại đồ ngủ, dép. Anh nhanh chóng thu gom các đồ ngủ khỏi phòng khách và thảy tất cả vào giường trong phòng Dana rồi đóng cửa lại. Anh xếp đầy ắp đồ trong máy rửa chén và bật máy, rồi sau cùng đi vào phòng làm việc và mở két sắt.
“Chào Anna,” anh nói khẽ, và căng thẳng trong người dịu dần; cái đau đã đến ngự sau mắt anh biến mất; anh quên chuyện kẹt xe trên đường từ Long Island về nhà, quên chuyện các con cãi nhau hình như không thể ngừng.
Anh đem những lá thư ra phòng khách và ngồi xuống, lần đầu tiên đọc chúng từ đầu đến cuối.
Những thư tình, những thư nồng thắm, có chỗ khôi hài, hiểu biết, thông minh. Không ngày tháng nên khó xếp chúng theo thứ tự thời gian, nhưng câu chuyện cũng ló dạng. Nàng gặp Mercer trong thành phố; họ sóng bước, chuyện trò và anh đã rời. Rồi anh trở về và lần này họ bên nhau một tuần và trở thành tình nhân. Nàng gửi thư tới một hộp thư bưu điện, anh không viết thư cho nàng mặc dù anh có đưa nàng giữ giấy tờ có những viết nguệch ngoạc không thể hiểu. Nàng lấy một người mà tên đã bị dao cạo cắt mỗi lần nàng nhắc đến ông. Mercer biết ông, từng viếng thăm ông, có vẻ hình như vậy. Họ còn là bạn nữa, và đã có những cuộc nói chuyện nghiêm túc lâu dài mà nàng không đuợc dự. Nàng sợ; Mercer có dính líu vào một chuyện gì rất nguy hiểm, và không ai cho nàng biết là chuyện gì, mặc dù chồng nàng biết. Nàng bảo Mercer là người đàn ông bí mật của nàng, và suy đoán về cuộc đời bí mật của anh, gia đình, vợ tâm thần, cha độc tài, hoặc những cơn hoang tưởng hóa sói của chính anh. Gordon mỉm cười. Anna không phải kiểu người hay than thở hoặc khóc lóc, nhưng nàng yêu Mercer tuyệt vọng, không biết ngay cả nơi anh sống, chỗ anh làm, nguy hiểm nào đe dọa anh, nghĩa là bất cứ điều gì về anh, trừ chuyện khi anh ở gần nàng, nàng hạnh phúc và sinh động. Thế là đủ. Chồng nàng thông cảm và chỉ muốn nàng hạnh phúc, và điều này đang làm nàng đau khổ, biết rằng mình đã làm chồng bị tổn thuơng rất nhiều, nhưng nàng vô phương.
Anh mím môi và đọc lại một thư, “Anh yêu, em không thể chịu được. Em thực sự không thể chịu được nữa. Em mơ đến anh, thấy anh nơi mỗi người lạ em gặp ngoài đường, nghe giọng anh mỗi lần em nghe điện thoại. Lòng bàn tay em trở nên ướt át, và râm ran toàn thân, nghĩ rằng em đang nghe tiếng bước chân anh. Anh là tất cả mộng mơ của em. Hôm nay em tự nhủ, sao lại thế này? Không đời nào! Phải chăng em là một con bé học trò ngốc nghếch mơ tưởng một ngôi sao TV? Ở cái tuổi 26? Em đã thu gom các giấy tờ của anh, bỏ vào một hộp giấy và ghi địa chỉ. Và khi em đề hộp thư bưu điện, em thấy mình cười khúc khích. Em gửi một thư tình tới hộp thư bưu điện. Nếu không ai đến mở nhận thư, thanh tra bưu điện sau cùng mở nó thì sao? Em có nên mua vui, làm trò cười cho người như thế không? Họ đứng tuổi, khô cằn, anh biết đấy, mấy ông thanh tra này. Hãy để họ tự tìm thú vui của họ! Ngộ nhỡ họ đọc được những nguệch ngoạc bí hiểm của anh và khám phá ra bí mật của vũ trụ? Ai trong họ đáng được hưởng trò vui như thế? Không. Em sẽ cất tất cả trở lại vào két sắt của [chỗ bị cắt] – ” Mercer không phải là người đàn ông bí mật. Lúc này Gordon nghĩ; người bí mật là người kia, người không tên có két sắt cất giữ giấy tờ của Mercer. Ông là ai? Anh lắc đầu truớc thu xếp của 2 đàn ông và 1 phụ nữ, và tiếp tục đọc: “- và [chỗ bị cắt] buớc vào, để em khóc trên vai ông. Rồi chúng em đi ăn tối. Em đói rồi.”
Gordon cười lớn, đặt thư xuống bàn coffee, ngửa lưng ra sau, hai tay chắp sau gáy và ngắm nhìn cái trần nhà. Nó cần sơn.

Trung 2 tuần sau anh làm việc trên các bức thư và mấy trang chữ viết của Mercer. Anh chụp hình mọi thứ, phóng lớn và tìm kiếm xem có dấu hiệu yếu đuối, bệnh tật. Anh nạp các thư vào máy computer và chạy chuơng trình anh đã phát triển, tìm xem cách dùng từ ngữ, cú pháp, các kết hợp chữ ngoại quốc hay địa phuong có cái gì bất thuờng hay có thể gợi đuợc điều gì. Anh nhất định Mercer đã sinh ra từ ống nghiệm và chưa bao giờ rời truờng và phòng thí nghiệm cho đến cái ngày anh ta gặp Anna. Nàng từ vùng Midwest, không phải thành phố lớn, mà đâu đó quanh một trong các hồ của Great Lakes. Cái tên bị cắt bỏ liên tục gồm 6 con chữ. Nàng có đến dự một buổi khai mạc của một họa sĩ mà tên cũng bị cắt bỏ. Nó gồm 9 con chữ. Cho dẫu không có xác chứng của nàng về họa sĩ này, có vẻ như nàng rất ấn tuợng với tác phẩm của ông. Điều này thấy trong dạng chữ viết. Gordon đo khoảng cách giữa các chữ, kích thuớc của các con chữ riêng biệt, và góc nghiêng của nét chữ, tỷ lệ của mọi thứ với nhau. Mỗi chuyển động của nàng đều thanh nhã, có tiết tấu. Những nối kết của nàng là những vòng hoa, cởi mở và tin tuởng; thế có nghĩa chính nàng là nguời chân thật. Những kết nối như sợi chỉ bện các chữ với nhau cho thấy tốc độ viết, mức tin tuởng vào trực giác.
Trong khi tiếp tục công việc, anh ghi chú đầy đủ hơn, rút ra những kết luận thuờng hơn. Bức tranh của Anna đang trở nên thực.
Anh chú ý ít hơn đến Mercer sau đánh giá ban đầu. Một khoa học gia, kỹ thuật gia, cẩn thận, chi ly, vụng về, một thiên tài, bị ức chế, bí mật quá đáng, một nguời cô đơn. Anh ta là mẫu nguời quen thuộc.
Khi Roda trở lại, Gordon cảm thấy anh có thể bảo ông về hai nguời này nhiều hơn chính mẹ ruột của họ.
Điều anh không có thể bảo là họ trông thế nào, hoặc Anna giờ đang ở đâu hoặc các giấy tờ nàng cất trong két sắt của chồng hiện đang ở đâu.
Anh quan sát Roda đang xem luớt qua báo cáo về Anna. Hôm nay mưa đang rơi thành những màn nuớc xám; không khí dầy đặc và ngột ngạt.
“Tất cả là đây?” Roda xem xong hỏi.
“Có vậy,”
“Chúng tôi đã kiểm tra tất cả các trình diễn nghệ thuật trong tiểu bang,” Roda vừa nói vừa nhăn nhó với anh. “Chúng tôi đã không tìm đuợc nàng. Chúng tôi có chứng cứ rằng Mercer không thể có thời gian bên nàng nhiều như nàng tự nhận trong thư. Chúng tôi đã bị gài bẫy. Ông đã bị gài bẫy. Ông nói nàng chân thật, đạo đức, và chúng tôi bảo nàng là một gián điệp hay còn tệ hơn thế, Nàng câu đuợc anh ta và đã lấy đuợc các giấy tờ, còn các thư này là giả, cái thư nào cũng là giả hết,”
Gordon lắc đầu. “Không có gian dối nào trong những bức thư này”
“Vậy thì tại sao nàng không xuất hiện khi anh ta chết? Lúc đó có đủ tin tức công khai. Chúng tôi đã nhìn thấy hết. Tôi cho ông hay là anh ta không hề bao giờ qua thời gian thực sự với nàng. Chúng tôi phát hiện ra anh ta trong một cuộc săn lùng tài năng khi anh là sinh viên tốt nghiệp, và từ lúc ấy anh ở luôn trong cái phòng thí nghiệm quỷ đó, 7 ngày một tuần trong 4 năm. Anh ta không bao giờ có thời gian cho mối liên hệ theo kiểu nàng nói. Nói dối suốt từ đầu tới cuối. Một tuởng tuợng,” Ông sụp nguời trong ghế. Hôm nay mặt ông xám gần như bộ đồ rất đẹp của ông.
Ông trông già hẳn đi mấy tuổi so với lần truớc ông ở trong văn phòng. “Họ sắp sửa thắng,” ông nói giọng trầm xuống. “Nguời phụ nữ và cộng sự của nàng, họ có lẽ đã ra khỏi nuớc. Có lẽ nắm đuợc các giấy tờ họ đã rời vào ngày sau tai nạn, công tác hoàn tất. Đuợc việc. Cái tên ngu ngốc, mê gái!” Ông nhìn xuống sàn vài giây nữa rồi thẳng nguời lên. Giọng ông cứng, nhanh gọn. “Tôi đã chống lại chuyện nhờ ông cố vấn ngay từ đầu. Phí thời gian và tiền bạc. Bậy bạ vô nghĩa như bùa phép Voodoo, tất cả là vậy. Thôi, chúng tôi đã làm những gì chúng tôi có thể làm đuợc. Hãy gửi hóa đơn thanh toán. Mấy thư nàng đâu?”
Gordon lặng lẽ đẩy tập hồ sơ qua bàn. Roda soát lại cẩn thận, rồi bỏ vào trong cặp và đứng dậy. “Nếu tôi là ông tôi sẽ không ghi công ty chúng tôi để tham chiếu trong tuơng lai, ông Sills.” Ông đẩy ra xa báo cáo về Anna. “Chúng tôi có thể hoạt động không cần cái này. Chào ông.”
Chuyện nên kết thúc ở đó, Gordon biết, nhưng nó đã không kết thúc. Em ở đâu, Anna? anh nghĩ, ngó ra ngoài thế giời sũng nuớc mưa lạnh. Tại sao nàng đã không buớc ra, tham dự đám tang, nộp lại giấy tờ? Anh không có câu trả lời. Nàng ở ngoài đó, sơn vẽ, sống với một nguời đàn ông đã rất yêu nàng, đủ để cho nàng cái tự do phải lòng nguời khác. Hãy chăm sóc nàng tử tế, anh nghĩ về nguời đàn ông kia. Hãy dịu dàng, hãy kiên nhẫn trong khi nàng đang hàn gắn vết thuơng. Nàng rất quý giá, ông biết đấy. Anh dựa đầu vào cửa sổ, để cho cái mát lạnh xoa dịu.
Anh nói lớn, “Nàng rất quý giá.”

“Gordon, anh khỏe không đấy?” Karen hỏi trong điện thoại. Lại một cuối tuần của anh cho các con.
“Vẫn thuờng. Tại sao hỏi vậy?”
“Chỉ thắc mắc. Anh nghe lạ. Anh có bạn gái không?”
“Em muốn gì, Karen?”
Giọng nàng trở lại lạnh như đá, và họ thu xếp để bọn trẻ tới, và khi nào anh sẽ trả chúng. Sách thư viện, anh nghĩ lạnh nhạt. Chẳng khác chi sách thư viện.
Khi anh gác máy anh nhìn căn hộ và kinh hoàng truớc cái bẩn thỉu, không đếm xỉa đến những tiện nghi cơ bản nhất. Một đèn khác, anh nghĩ. Tối thiểu anh cần một đèn thứ hai. Có thể phải 2 cái. Anna thích ánh sáng. Bạn gái?
Anh muốn cuời, và cũng muốn khóc. Anh có một chữ ký, vài thư tình viết cho một người đàn ông khác, một phụ nữ đến với anh trong mộng và nói với anh bằng những câu trong thư nàng. Bạn gái! Anh nhắm mắt lại và thấy cái tên: Anna. Con chữ A hoa như một núi lửa bùng cháy vuơn cao trên bầu khí quyển, rồi 2 con chữ n ngay ngắn thanh tú, con chữ a nhỏ bé ngộ nghĩnh khó nhọc đứng yên trên hàng cứ muốn bay xa, Từ đây xuất phát một đuờng vòng đẹp quét ngang phía trên cái tên, bao lấy nó, và hạ xuống đi qua con chữ A, quay đầu vào nó, tạo thành một hình giống hệt cái palét. Một biểu thị bằng hình của Anna, vút lên trời, sơn vẽ, tạo ra nghệ thuật với từng hơi thở, từng cử động. Mãi mãi yêu em, Anna. Mãi mãi yêu em.
Anh hít một hơi dài và cố gắng lập chương trình cho cuối tuần của các con, những ngày còn lại của tháng, mùa hè, những năm còn lại của đời mình.
Hôm sau anh mua 1 đèn, và trên đuờng về nhà rẽ vào tiệm hoa mua nửa tá cây hoa. Nàng đã viết ánh nắng biến các hoa trên bục cửa sổ thành châu báu. Anh đặt chúng trên bục cửa sổ và kéo cửa lá sách; ánh nắng biến hoa thành châu báu thật. Anh nắm chặt tay; đột nhiên quay nguời rời gót.
Anh trở lại làm việc; xuân đã sang hạ, nóng nực và ẩm thấp như thể là chỉ có ở New York. Anh thấy mình đi từ trình diễn nghệ thuật này đến trình diễn nghệ thuật khác. Anh tự chế nhạo, tự rủa mình về chuyện này, nhưng anh vẫn đến dự các buổi khai mạc, xem xét tác phẩm của nghệ sĩ mới, chữ ký, làm hoài làm hoài, lập đi lập lại. Nếu các thanh tra chuyên nghiệp đã không thể tìm ra nàng, anh tự xác quyết, và FBI cũng không thể tìm thấy nàng, anh thật ngu ngốc nghĩ rằng mình may ra có đuợc cơ hội mong manh. Anh cô đơn, anh tự bảo, và anh cố tìm thích thú nơi những phụ nữ khác, bất cứ phụ nữ nào, và anh tiếp tục đến dự các buổi khai mạc.
Mùa thu anh đến dự khai mạc của một họa sĩ mới khác, một thầy giáo rời truờng dạy vẽ. Và anh tự rủa thầm truớc đây đã không nghĩ đến điều này. Nàng có thể là một cô giáo dạy vẽ, Anh lập một danh sách các truờng nghệ thuật và bắt đầu từ trên xuống, và trong khi làm việc với từng truờng anh hoàn thiện câu chuyện của mình. Anh đang sưu tập chữ ký của họa sĩ cho một bài định viết. Câu chuyện nghe lọt tai. Nhưng nó chẳng kết quả gì.
Nàng có thể xấu, anh tự nhủ. Loại phụ nữ nào phải lòng Mercer? Anh ta bị ức chế, gò bó, không thanh lịch, xuất sắc, lập dị, và đầy kỳ lạ. Chính cái kỳ lạ nàng cảm thấy, anh biết. Nàng đã bị hấp dẫn bởi cái kỳ lạ nơi Mercer, đã vuợt qua những phòng thủ của anh, đã tìm thấy nguời đàn ông còn non trẻ, thật sự hấp dẫn. Và anh ta cũng nguỡng mộ nàng. Thư nàng cho thấy rõ đây là tình cảm hỗ tuơng. Tại sao anh đã dối nàng? Tại sao anh không giản dị bảo nàng anh là ai, đang làm gì?. Nguời đàn ông kia trong đời nàng không là một trở ngại, điều này cũng thấy rõ. Hai nguời đàn ông thích nhau và cả hai đều yêu nàng. Gordon suy ngẫm sâu xa về nàng, về Mercer, nguời đàn ông kia, và anh rất thuờng lui tới các buổi khai mạc, trở nên khuôn mặt quen thuộc tại các phòng vẽ, truờng vẽ nơi anh sưu tập chữ ký. Nó là một ám ảnh, anh tự nhủ, không lành mạnh, ngay cả có thể là một dấu hiệu của bệnh tâm thần – có khi còn tệ hại hơn thế. Thật là điên khi yêu chữ ký của một nguời, các thư tình của nguời đó gửi cho một nguời khác.
Anh có thể lầm, anh tự nhủ. Cuối cùng có lẽ Roda đã đúng. Nghi ngờ luôn luôn chết yểu.
Mưa lạnh tháng Muời đã tới. Karen đính hôn với một nguời giầu có. Chuyện con cái đến anh cũng trở nên dễ dàng hơn vì anh không còn phải cố tìm cho chúng giải trí mỗi phút; anh chịu thua, đành phải mua TV và các trò chơi video cho chúng. Anh ghé vào Viện Nghệ Thuật để gặp Rick Henderson, bạn quen mấy tháng qua. Rick dạy vẽ mầu nuớc.
Gordon đang ở trong văn phòng đợi anh ta kết thúc khóa phê bình của lớp thì anh nhìn thấy A, con chữ A hoa của Anna.
Anh cảm thấy cánh tay như bị kim châm, lòng bàn tay xuất hãn, dạ dầy thắt lại khi anh nhìn trân trân cái phong bì nằm trên bàn Rick. Hầu như sợ sệt anh xoay nó để quan sát dạng chữ. Con chữ A trong Viện Nghệ Thuật, giống như núi lửa vuơn lên bầu khí quyển, với một gạch ngang vô tâm, ngẫu nhiên, trông như chiếc mũ Mễ sombrero lệch một góc ngang tàng. A của Anna. Nó không soải vòng thành hình palét, nhưng nó sẽ không, không với một địa chỉ. Nó là dấu hiệu riêng tư của nàng.
Anh chìm nguời trong ghế của Rick và hít một hơi dài. Anh không đụng vào bức thư nữa. Khi Rick sau cùng ra với anh, anh hất đầu về phía bức thư.
“Anh làm ơn cho tôi biết ai đã viết cái đó?” Giọng anh nghe khàn khàn, nhưng Rick hình như không để ý. Anh mở phong bì và đọc luớt qua một thư ngắn, rồi đưa cho Gordon. Nét chữ của nàng. Không giống hệt nhau nhưng nó là của nàng. Anh chắc chắn nó là của nàng, cho dù có thay đổi. Cái cách trình bầy chữ viết trên trang, độ nghiêng các con chữ, nét thanh thoát lưu loát…Nhưng không phải giống hệt. A trong tên Anna của nàng cũng khác. Anh hoang mang truớc những khác biệt này, biết rằng mặc dù vậy, đây chính là của nàng. Sau cùng anh thực sự đọc các chữ. Nàng sẽ vắng mặt lớp trong vài ngày. Thư viết cách đây 4 ngày.
“Chỉ là một cô gái,” Rick nói. “Mới đến từ Ohio, nghĩ là cần vắng mặt khỏi lớp. Tôi ngạc nhiên thư không phải mẹ nàng ký.”
“Tôi gặp đuợc không?”
Giờ thì Rick trông mới có vẻ chú ý. “Tại sao?”
“Tôi muốn chữ ký của nàng.”
Rick cuời. “Anh rõ thật là điên, anh biết đấy. Dĩ nhiên đuợc. Nàng đang trong phòng vẽ, bù đắp lại thời gian nghỉ. Theo tôi.”
Gordon ngừng tại nguỡng cửa và nhìn chăm chú thiếu nữ đang vẽ. Nàng không ngoài 20, gầy tội nghiệp, trông như đói. Nàng mang giầy sneaker lem nhem, quần jean cũ, phai mầu, sơmi đàn ông sọc vuông. Không phải Anna của những bức thư. Chưa phải.
Gordon cảm thấy chóng mặt và vịn vào khung cửa chốc lát, và anh biết cái gì Mercer đã làm, cái gì anh ta đã khám phá. Anh cảm thấy như chính anh đã truợt ra khỏi thời gian khi các ý nghĩ của anh chạy vùn vụt, những giải thích đuợc tạo thành, mấy năm sắp tới của anh hiện hình trong đầu. Thông diễn đến theo kiểu hình tuợng tâm linh như ký ức hiện ra, tất cả một chuỗi sự kiện đuợc cảm nghiệm đầy đủ toàn thể và đồng loạt cùng lúc. Ghi chú của Mercer cho thấy anh ta xuất sắc, thuờng bị ám ảnh, như ám ảnh bởi thời gian, và kín đáo, bí mật. Roda đoán chừng Mercer đã thất bại vì đã làm nổ tung thiệt mạng. Mọi nguời hẳn cũng giả định thế, Nhưng anh ta đã không thất bại. Anh đã đi truớc 5 năm, nhiều nhất là 6 năm, tới thời điểm Anna sẽ 26. Anh đã truợt khỏi thời gian vào tuơng lai.
Gordon biết chắc rằng chính tên mình đã bị cắt bỏ trong thư Anna. Những câu trong thư nàng quay lộn trong đầu anh. Nàng đã nhắc đến cây cầu Nhật Bản, trong tranh của anh, những hoa trên bục cửa sổ, ngay cả cách mặt trời mất nắng khi khuất sau tòa nhà bên kia đuờng. Anh nghĩ về Roda và đám nhân viên tìm kiếm giấy tờ đã bị cất dấu, cất dấu chỗ an toàn nhất trên thế giới – đó là thời gian. Cái két sắt Anna cất giấy tờ trong đó sẽ là két sắt của anh, của Gordon. Anh nhắm chặt mắt lại, đã cảm nhận thấy nỗi đau anh biết sẽ đến khi Mercer nhận ra rằng mình phải chết, mình đã chết. Với Mercer không có tình yêu nào đủ mạnh để anh ta từ bỏ công việc.
Gordon biết rằng anh sẽ ở bên Anna, ngắm nàng lớn lên trở thành Anna của những bức thư, ngắm nàng soải lên bầu khí quyển, và khi Mercer buớc qua cánh cửa thời gian, Gordon sẽ vẫn còn yêu nàng, đợi nàng, giúp nàng hàn gắn vết thuơng sau đó.
Rick hắng giọng và Gordon nhấc tay khỏi khung cửa, buớc tới vào phòng vẽ. Anna đang tập trung vẽ bị phá vỡ; nàng nguớc lên nhìn anh. Mắt nàng xanh đậm.
Chào, Anna.

.
Phạm Đức Thân dịch

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Nguyễn Du)