Nguyên Lạc

ganh-che-khuya

.

Mỗi tên chè – một nỗi thương
Mỗi tên chè – gợi mùi hương nhớ đời
.
Cần Thơ thành phố thân yêu của tôi, thành phố của một thời, một thời mộng mơ. Thành phố của những con đường, những ngõ ngách thân quen, những quán cà – phê với những bài ca muôn thuở. Đặc biệt là những quán chè bên lề đường của thời áo trắng môi hồng phượng đỏ. Những chén chè ngọt lịm môi người, ngào ngạt hương yêu.
Ai mà ở bến Ninh Kiều không nghe tiếng rao chè tha thiết, ngọt ngào, ngân nga kéo dài trầm bổng nửa khuya: “Ai ăn chè bột khoai, đậu xanh, nước dừa, đường cát hô.ô.ô…hôn? lời rao gợi nhớ đến bài ca vọng cổ “Gánh chè khuya” của soạn giả Viễn Châu, qua giọng ca ngọt ngào, trầm ấm của “Đệ nhứt danh ca” Út Trà Ôn và “sầu nữ” Út Bạch Lan. Chỉ đoạn ca mở đầu, người nghe cảm thấy tâm hồn bâng khuâng, xao xuyến:
Nghe tiếng rao/ Trong đêm dài u buồn/ Đêm từng đêm thầm vang bên phố vắng/ Nghe tiếng rao/ Như một lời kêu than cho số kiếp phụ phàng…

Gánh Chè Khuya (Út Trà Ôn & Út Bạch Lan)

.

Về chè của Cần Thơ, tôi xin giới thiệu đến các bạn bài viết rất lý thú của thầy Lê Văn Quới, đồng nghiệp và cũng là đàn anh cùng dạy ở Cần Thơ trước 1975.
Trước khi vào bài viết của thầy Quới, tôi xin bàn sơ về hai chữ Chè và Trà cùng giai thoại về nguồn gốc “chè bột khoai, đậu xanh, nước dừa, đường cát”: Chè Thưng nói trên.
.

CHÈ, TRÀ

1. Chè – Sweet Soup/ Sweet gruel – là món tráng miệng trong ẩm thực Việt Nam và nhiều nước khác. Còn trà – tea – là thức uống nổi tiếng như cà-phê -coffee .
Có lẽ không ở đâu như ở xứ mình, chè rất thông dụng và có sức sống mãnh liệt. Tiếng “chè” đã được nhắc bên tai đứa bé từ lúc nó vừa tròn tháng tuổi. Đó là món “chè ỉ ” không thể thiếu trong lễ cúng mừng đầy tháng và thôi nôi cho bé.
Trong ngôn ngữ phía Bắc nước ta, hai từ “chè” và “trà” thường dùng lẫn lộn và trong thực đơn các món chè miền Bắc có một số loại chè rất lạ với miền Nam, chẳng hạn như chè bà cốt, chè con ong, chè hạt lựu, chè hoa cau, chè kho… Ngược lại, một số loại chè có thể xem là món đặc sản, là sự sáng tạo của đồng bào Nam bộ mà miền Bắc xa lạ như chè thưng, chè củ năng trứng cút, chè chuối, chè bà ba, chè táo xọn …
2. Riêng tại miền Trung, như Quảng Nam thì dân chúng còn phân biệt rõ ràng: Thường nói uống nước chè, gồm chè chín (chè đã sơ chế ), chè tươi , chè xanh (hái trên cây vào chưa sơ chế, sấy ). Còn uống trà là mua những gói trà hoặc hộp trà về nấu nước sôi để pha trà uống . Chè thì phải nấu chứ không thể chế nước sôi để pha. Còn chè, món tráng miệng trong ẩm thực nấu với đậu, hoặc những loại ngũ cốc khác với đường thì được gọi là chè ngọt.
3. Trích đoạn bài viết về CHÈ của thầy Lê Văn Quới bên dưới rất hay, nhưng có lẽ thầy quá nghiêm chỉnh chăng? Trong phần bàn về chữ CHÈ, theo tôi còn hơi “thiêu thiếu”, nên xin ghi thêm ra cho đầy đủ “bộ tam sên”, tặng bạn vài nụ cười. Có gì xin bỏ quá cho, cám ơn.

a. Nam bộ quê tôi có vài phương ngữ liên quan đến “chè” ” rất vui:

Thí dụ như: “đi ăn chè” và “cho chó ăn chè”…

– Đi ăn chè: Đi tìm “ngọt ngào” ngoài luồng.
– Cho chó ăn chè: Nói đến tình trạng “mút mùa lệ thủy”, “mút chỉ cà- tha”, “đứt dây” của các “ông thần men”, uống rượu quá độ rồi bị ói mữa. (“…” là phương ngữ “giang hồ” nam bộ, ghi ra cho vui nhe các bạn)
.
Thơ rằng:
Khoan khoan ngồi đó chớ đi
Bạn bè tri kỷ mấy khi sum vầy
Bà đâu ta bảo bà này
Hãy ra bờ ruộng lùa bầy vịt non
Ca-ri vịt, tiết canh ngon
Vài chai rượu rắn cho tròn đệ huynh
Uống cho trọn nghĩa trọn tình
“Mút mùa lệ thủy” rồi mình… đứt dây!
(Nguyên Lạc)

.
b. Trong ca dao, có vài bài vui liên hệ đến chè/ trà:

Ở miền Bắc, vùng Thái Nguyên VN có những đồi chè đươc trồng trên đồi núi và công việc thu hoạch được đảm đương bởi phụ nữ, do đó mà có những câu ca dao khuyên nhủ các cô gái khi đi hái chè, hái xong lo về chớ đưng bị gạ gẫm dụ dỗ, lúc nào cũng cảnh giác các cạm bẫy của cuộc đời :

Người ngoan lên núi hái chè
Hái dăm ba lá xuống khe ta ngồi,
Chim khôn chết mệt về mồi,
Người khôn chết mệt về lời nhỏ to
Chim khôn tránh lưới tránh dò
Cá khôn tránh lưới, lững lờ mắc đăng

Để tặng các bạn vài nụ cười, tôi xinh trích đoạn ra đây bài ca dao “Cô gái hái chè” có liên hệ đến chữ chè/ trà:

Cô Gái Hái Chè 
.
Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy mà nó chẳng tha
Nó đem đút cái mả cha nó vào


.

NGUỒN GỐC CHÈ THƯNG

.
Nhân đọc bài “Đi tìm nguồn gốc CHÈ THƯNG” [*] của tác gả Minh Lê, nhà biên khảo Đỗ Chiêu Đức đã viết bài Tạp ghi và Phiếm luận “Từ Chè TÀO THƯNG đến BÒ BÍA” . Tôi xin trích đoạn dưới đây:
[…
Theo giai thoại của bài viết nêu trên về “CHÈ THƯNG” như sau:

(trích)…
“Trên trang nhà của Giáo sư Trần văn Khê, ông tả lại một buổi đi thuyền trên sông Sầm Giang với hai nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận vào năm 1939. Thuyền đi từ Vĩnh Kim ra Rạch Gầm.

Đáp lời mời của thi sĩ Khổng Nghi, hai nhà thơ lớn Xuân Diệu và Huy Cận đến Sầm Giang để cùng chúng tôi thưởng thức một đêm trăng trên sông, có nhạc, có thơ, có người đẹp và có cả những thức ăn đặc sản. Đêm đó có cháo gà xé phay, tráng miệng ngoài trái cây còn có món “tào thưng” (chè thưng gồm có bột khoai, bún tàu, nước dừa, đường cát)… Chén “tào thưng” làm cho hai thi sĩ Miền Bắc tấm tắc khen ngon.” Sau này gặp lại, nhà thơ Xuân Diệu vẫn nhớ buổi du thuyền đêm đó và viết tặng Giáo sư một bài thơ, trong đó có câu:
Dưới trăng, mời chén tào thưng,
Mà ba mươi lẻ năm chừng đã qua.
(Ngưng trích)
Theo giai thoại trên thì “CHÈ THƯNG” là tiếng nói gọn lại của “CHÈ TÀO THƯNG.” CHÈ là tiếng Nôm của ta; còn “TÀO THƯNG” là âm tiếng Triều Châu (潮州) (ta quen gọi là Tiều Châu, rồi gọi tắt luôn là tiếng TIỀU). Nên TÀO THƯNG là do tiếng Tiều phát âm 2 chữ ĐẬU THANG (豆湯) mà ra:

* ĐẬU (豆) là Hạt đậu. THANG (湯) là Canh: Bỏ đậu xanh vào nồi rồi đổ nước nấu lỏng bỏng như nấu canh. Khi đậu đã chín và nở ra thì bỏ đường vào (đường thẻ, đường sắc “Saccarozo,” đường cát…) đường gì cũng được. Xong múc ra chén, cứ thế mà húp sùm sụp khi chè còn đang rất nóng. (Ăn nóng là phong cách của người Tiều Châu: Cháo nấu lỏng bỏng vừa chín tới là đã múc ra chén, cho chút ít muối, đường hay nước tương gì cũng được là họ đã húp một cách ngon lành).

TÀO THƯNG là món ăn dặm vừa tiện, vừa rẻ, vừa ngon, vừa đem lại năng lượng làm việc cho các lão Tiều trồng rẫy làm ruộng ở vùng Phú Lâm khi xưa. Tiện vì làm rẫy có sẵn đậu xanh trong nhà; Rẻ vì chỉ có nước và đường gì cũng được; Ngon vì giữa trưa đang đói, có chén canh ngọt ngọt húp vào thì còn gì bằng; Vừa tăng thêm “calories” để tiếp tục công việc đồng áng. Nên…

* TÀO THƯNG (豆湯): nghĩa đen là “CANH ĐẬU,” ở đây chỉ “CHÈ ĐẬU XANH.” Người Hoa không có tiếng để gọi CHÈ, họ gọi tất cả những món ăn có nước là THANG (canh), như người Tây phương gọi “Soup” vậy. Vì đậu xanh không có nấu canh mặn, nên TÀU THƯNG là “canh ngọt” là “Chè Đậu Xanh” nguyên hột còn để vỏ.

Nói thêm một chút về Ngũ Bang (五邦) của người Hoa ở Chợ Lớn Việt Nam:

Người Phước Kiến thuộc tỉnh Phúc Kiến,
Người Quảng Đông,
Người Tiều Châu,
Người Hải Nam và
Người Hẹ, thuộc tỉnh QUẢNG ĐÔNG (Hải Nam trước là một đơn vị hành chánh độc lập).
Người Quảng Đông giỏi buôn bán kinh doanh, nên hiện diện rất đông đảo ở vùng Chợ Lớn Mới; Người Hẹ – còn gọi là Khách Gia (客家) – giỏi nghề thầy thuốc, trị bệnh; Người Phước Kiến thường theo nghề dạy học, xuất nhập khẩu; Người Hải Nam làm các nghề dịch vụ như mở quán nước, nhuộm đồ, bịt răng…; Người Tiều Châu thì đa số làm ruộng làm rẫy, nên thường sống ở vùng ngoại ô như Phú Lâm, Lục Tỉnh, như Sóc trăng, Bạc Liêu. Ta thường nghe câu hát:

Bạc Liêu là xứ cơ cầu,
Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu!

Nên người Tiều Châu rất khắc khổ, chịu thương chịu khó trong công việc đồng áng, và cũng chính người Tiều Châu hòa nhập vào cuộc sống nông thôn của người Việt Nam nhiều nhất, sớm nhất; và cách hòa nhập “hòa nhập nhất” là lấy vợ Việt Nam. Chính những bà vợ Việt Nam nầy thương chồng cần cù vất vả nên mới thêm “Phổi-tai,” nấm mèo, nước cốt dừa vào cho món CHÈ THƯNG được đa dạng và ngon hơn. Dần dà, thấy trong nhà làm rẫy có thứ nào thì thêm thứ đó vào, như khoai môn, khoai cao, khoai lang, khoai mì… và khi cuộc sống khấm khá hơn, thì không bỏ đường thẻ đường đen nữa mà bỏ bằng “đường cát trắng” và thêm bột khoai vào…

che-thung

(hình chén Chè Thưng)

.

Khi món Chè Thưng đã đủ ngon thì mời bà con lối xóm cùng ăn, và thấy có nhiều người thích thì người vợ Việt Nam cũng vì thương chồng cần cù mà tỏ ra đảm đang hơn bằng cách bỏ “Nó” vào quang gánh, gánh đi bán cho làng trên xóm dưới. Từ Phú Lâm ra Chợ Lớn, rồi từ Chợ Lớn ra Sài Gòn… tiếng rao lanh lảnh: “Ai ăn chè đậu xanh nước dừa đường cát… hông?” cứ vang vang từ giữa trưa cho đến giữa đêm về sáng…

Ngoài “TÀO THƯNG (豆湯)” là món ăn chơi được phát âm bằng tiếng TIỀU CHÂU (潮州) ra, trong các món ăn quen thuộc mà ta thường nghe hằng ngày còn có rất nhiều món có âm gốc từ tiếng Tiều Châu mà ra như:

– TÀU XỌN (豆串): là Chè đậu xanh cà lột vỏ có pha bột mì tinh vào cho sệt sệt. Đậu màu vàng phân biệt từng hột một trong dung dịch sền sệt của “patioca.” Người Việt Nam ta lại chan thêm một muỗng nước cốt dừa màu trắng lên trên nữa, trông vừa đẹp mắt vừa béo hơn ngon hơn

Trong bài viết của bạn Minh Lê có nhắc đến chữ “Lục Tàu Xá”:
“Rồi vì chè bột khoai, chè tào thưng và chè bà ba có nhiều nguyên liệu giống nhau, lại thêm lục tàu xá (chè sáu món của người Hoa, gồm đậu xanh, phổ tai, táo đỏ, hạt sen, nhãn nhục, hoa móng tay hay vỏ quýt).”

– Phổi tai (海帶): chữ Nho là Hải Đới, HẢI là Biển, ĐỚI còn đọc là ĐÁI là một dãy dài (như sợi dây nịt, dây lưng quần chẳng hạn, được gọi là QUẦN ĐÁI 裙帶). Nên HẢI ĐỚI là những sợi rong dài to bảng ở dưới biển. Tiếng Quảng Đông đọc là “HỔI TAI.” Ta đọc trại thành Phổi Tai (Phổ tai!?). Loại rong biển to bảng nầy xắt sợi trộn chung với “lười ươi hột é” ăn rất mát.

– Lục tàu xá (綠豆沙): Chữ Nho là LỤC ĐẬU SA, Lục Đậu: là Đậu có màu xanh lục, chữ Lục ở đây không phải là số 6. Nên Lục Đậu Sa: có nghĩa là chè đậu xanh lột vỏ được nấu nhừ như Cát (sa). LỤC TÀU XÁ là âm của tiếng Quảng Đông…] – Đỗ Chiêu Đức -“Từ Chè TÀO THƯNG đến BÒ BÍA”
.

TƯƠNG TƯ TIẾNG RAO CHÈ

.
Phần trích đoạn sau đây là của GS Lê Văn Quới.
[ … 1. Cái “hồn chè” sống mãi trong tôi chính là tiếng rao chè. Những năm sống ở Chợ Lớn (khoảng 1958 – 1963), tôi quen tai với tiếng rao chè của người Hoa: “Chí mà phủ… ủ; lục tào xá… á” mà mỗi lần nghe lại không nhịn được cười. Cười vì cái âm cuối cụt lủn, chỉ ủ ủ, á á rồi ngưng, rồi chìm lẫn giữa phố vắng, đường khuya.
Tháng 9/1964, tôi đến Cần Thơ dạy học. Đêm nghỉ ở khách sạn Thế Giới (đường Thủ Khoa Huân) gần bến Ninh Kiều. Nửa đêm, bỗng nghe tiếng rao chè; “Ai ăn chè bột khoai, bún tàu, đậu xanh, nước dừa, đường cát hôôôônnn…? Tiếng “hôn” kéo dài ngân nga, như bay như lượn, trôi nổi chơi vơi suốt một cung đường. Tiếng rao tha thiết, ngọt ngào của một cô gái miền Tây. Lần đầu tôi được nghe, sao mà xao xuyến quá! Tiếng rao khiến tôi nghĩ đến bao cảnh đời tần tảo, bao số phận chìm nổi giữa chiến tranh… rồi tôi thao thức cả đêm.
Như thế, đêm đầu hội ngộ Cần Thơ, tôi đã tương tư một tiếng rao chè! “Nhất thanh, nhì sắc…” Tôi hình dung những cô gái miền Tây sông nước, những cô gái Cần Thơ đều có chất giọng ngọt ngào như giọng cô gái rao chè. Và trong sâu thẳm lòng tôi như vút lên câu hát cũ: “Đến đây thì ở lại đây – Bao giờ bén rễ xanh cây hãy về”. Và tôi đã gắn bó với quê hương tình yêu này từ ấy đến nay.
2. Những năm 1960, ở Cần Thơ có nhiều quán chè, chốn gặp gỡ lãng mạn của giới học sinh sinh viên và cũng là của tất cả mọi người. Hai nơi bán chè nổi tiếng nhất là những quán đá đậu nhỏ trên đường Ngô Quyền – nơi có hai trường trung học: trường nam Phan Thanh Giản và trường nữ Đoàn Thị Điểm – và quán chè bưởi La San ở đường 30/4 hiện nay. Tôi trở thành khách hàng thường xuyên hai nơi này. Chè ngon là từ cái không khí của quán chè, từ những bâng khuâng ngọt ngào mà sâu thẳm gợi lên từ tiềm thức, từ giọng nói tiếng cười tươi tắn trữ tình của những người trẻ, và như từ lâu lắm trong ký ức bởi một tiếng rào chè…
Một điều thật bất ngờ là từ tờ báo tường của lớp tôi phụ trách, lại xuất hiện mấy câu thơ liên quan đến chè:
Buồn mang mang – ôi nỗi buồn mang mang
Anh hỏi em – cô gái trường Đoàn
Lòng có buồn như kẻ ở trường Phan
Khi tiếng rao chè vừa mới qua ngang?

Những câu thơ không đề tác giả. Và tôi – người thấy giáo trẻ, chợt ngỡ ngàng vì cảm thấy mình hình như chưa hiểu hết học sinh mình. Cái tâm trạng “nghe tiếng rao chè” mà lòng “mang mang” cũng chính là tâm trạng của tôi – của một thời trong quá khứ. Người học trò tôi không biết tên đó rõ ràng là khách đồng điệu của tôi! Từ đó, tôi nảy sinh ý tưởng là tìm tòi bằng mọi cách tất cả những bài thơ của người Cần Thơ viết về chè. Tôi đã tập hợp được hơn 30 bài. Những bài thơ tôi gìn giữ có giá trị như một loại văn học dân gian.
Tôi chia những bài thơ này làm hai loại: 1. Những câu viết riêng cho những cô gái bán chè, tác giả có thể là những khách tình si thuộc nhiều lứa tuổi; 2. Những câu “đặc sản” của giới học sinh, viết chỉ để gởi cho nhau.
– Ở loại thứ nhất, xin dẫn mấy đoạn thơ sau:

Người là thi sĩ – làm thơ
Anh là “chè sĩ” – vẩn vơ phố phường
Mỗi tên chè – một tên thương
Mỗi tên chè – gợi mùi hương nhớ đời
Đậu đen, đậu đỏ… thơm môi
Chè thưng, bột bán, phổ tai ngọt mềm.

Nhìn viên xôi nước phát thèm
Ba chìm bảy nổi thân em vẫn tình
Mát lòng một chén đậu xanh
Thắm duyên chè bưởi ai đành quên ai!
Dù đi khắp biển sông dài
Tiếng rao chè! vẫn đêm ngày tương tư!

– Ở loại thứ hai, có những câu tiêu biểu:

Cần Thơ có lắm quán chè
Quán ở vỉa hè – quán thật khang trang
Chè bưởi nổi tiếng La San
Con đường đá đậu – trường Đoàn lừng danh
Xôn xao nữ tú nam thanh
Gần xa nô nức, yến oanh hẹn hò!
Đẹp thay cái tuổi học trò
Chén chè mát ngọt để cho tinh nồng.
.
Cuộc sống ngày một đổi thay. Nếp sinh hoạt đô thị không còn giống ngày xưa. Tiếng rao chè hàng đêm ngày càng thưa vắng! Mai này có thể ở thành phố sẽ không còn bóng dáng những gánh hàng rong. Tôi bồi hồi nghĩ đến tiếng rao chè và ngậm ngùi cho “những người muôn năm cũ”…] [Lê Văn Quới]
.

LỜI KẾT

Ôi Cần Thơ thương nhớ. Cần Thơ của những chén chè ngọt lịm thân thương. Cần Thơ của “Một thời ta cố quên”.
Xin mượn câu nói sau đây và vài câu thơ để kết thúc bài viết này – chắc nó pha trộn giữa vui và buồn?
– “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” – Heraclitus (triết gia Hy Lạp cổ đại)
Thời gian – nước chảy qua cầu/ Tiếng rao chè cũ đã vào hư vô

Và:

Cái thời mắt liếc dao cau
Cái thời đưa đón tình nhau Ninh Kiều[*]
Ly chè ngào ngạt hương yêu
Hoài trong tâm tưởng dù màu thời gian
(Nhớ bến Ninh Kiều – Nguyên Lạc)
.
Ôi! Tất cả chỉ còn là kỷ niệm, chỉ còn là dĩ vãng khôn nguôi!
Chè, niềm nhớ không phai! Mãi mãi không phai!
.
Nguyên Lạc
……………………
[**] Thời Đệ nhất Cộng Hoà, chính quyền Việt Nam Cộng hòa năm 1957 đã cho lập nơi bến sông Cần Thơ một công viên cây kiểng và bến dạo mát: Ninh Kiều. Kế tiếp là chợ Cần Thơ.
[*] Đi tìm nguồn gốc Chè Thưng -Minh Lê
http://nhungnguoibanspsg.blogspot.com/2021/12/i-tim-nguon-goc-che-thung.html

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Nguyễn Du)