Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên tác chữ Hán 哭泣的駱駝 (Khốc Khấp đích Lạc Đà)

Lời Người Dịch: Bối cảnh địa lý và lịch sử của bài này xin xem chú thích (1); về tác giả Tam Mao xin xem chú thích (2). Quý độc giả nên đọc chúng trước khi đọc chính bài văn này.

Tác giả dùng dấu phẩy nhiều hơn dấu chấm, có lẽ tác giả chịu ảnh hưởng lối hành văn ”hành vân, lưu thuỷ/mây bay, nước chảy” của văn chương Trung Hoa xưa. Các tác giả hiện đại cũng hay chấm câu kiểu này, khác người Việt chịu ảnh hưởng lối chấm câu cứng cỏi, rạch ròi của Pháp. Người dịch giữ lại lối chấm câu này của tác giả.

Các nhân vật trong bài văn này, hiểu ngầm là họ nói tiếng Tây Ban Nha khi nói chuyện với tác giả Tam Mao, còn ngôn ngữ nói thường ngày với nhau của dân ở đó, chính là Tiếng Ả rập Hassaniya.

****

Hôm nay, đã không biết bao nhiêu lần, tôi chợt tỉnh giấc trong căn phòng tăm tối, ngoài đường chẳng có tiếng người, tiếng xe cũng không. Chỉ có tiếng đồng hồ báo thức trên bàn tích tắc trong trẻo mà vô tình mỗi lần tôi thức giấc.

Rồi tôi cũng tỉnh hẳn, những chuyện xảy ra hôm qua, không phải chỉ là cơn mộng dữ rồi qua. Mỗi lần tôi thức giấc, trí nhớ lại bắt tôi nhớ lại những hình ảnh chạy loạn xạ như chạy trước ống kiếng, về những chuyện mới xảy ra đây thôi, ở nơi ấy, của một tấn thảm kịch khiến tôi những muốn khóc thét lên được.
Tôi khép mắt lại, những khuôn mặt của anh Bassiri, của anh Afeluat và của cô Shahida/Sahiđa, với vẻ mặt tươi cười mà như không cười, cứ chập chờn như sóng sóng điệp trùng trước mặt tôi. Tôi bật mình dậy, bật đèn sáng, tôi nhìn tôi trong kiếng, chỉ trong một ngày mà tôi, lưỡi đã khô, môi đã rộp, hai mắt sưng húp, hốc hác quá chừng.

Khi tôi mở cánh cửa sổ gỗ hướng ra phía đường, sa mạc phía ngoài khung cửa sổ, hoang vắng y như một vùng băng tuyết, chẳng có lấy một bóng người. Đột nhiên bị sa vào cảnh trí mà mình không ngờ thê lương đến như thế, tôi đâm sững sốt, ngây người nhìn đăm vào trời đất dửng dưng của vùng cát trắng mênh mông, và chẳng còn biết mình đang ở nơi nao.

Ừ, ai rồi cũng phải chết, không lúc này thì lúc khác, bất kể cuộc đời ấy đoản mệnh hay trường thọ, khóc – cười, thương – ghét, mộng trong – mơ ngoài, lộn xuôi – lộn ngược, rồi cuối cùng mạng sống nào cũng có ngày biến đi mất tích mất tăm. Trên đất cát trắng tinh như màu tuyết, nhìn mãi mà chẳng thấy nhân ảnh của những người chết, ngay cả những ngọn gió chiều hôm cũng không chở nổi trên cánh nó những tiếng than dài của họ.

Xoay mình trở lại căn phòng trống vắng như sự chết, dưới ánh đèn tôi tối, tôi như thấy anh Bassiri đang ngồi xếp bằng trong ấy, và trong khi tôi vừa kinh ngạc vừa luýnh quýnh nhìn anh, anh khoan thai gỡ từng nếp từng nếp của chiếc khăn trùm cả đầu lẫn mặt, và rồi trên khuôn mặt ánh màu nâu đen của anh vừa được mở ra, nổi bật hai đồng tử lấp lánh ánh sao lạnh buốt, và một nét cười thật quyến rũ rạng lên bất ngờ.

Mắt tôi hấp háy, và kìa, tôi thấy cô Shahida ngồi bên giá sách, mặt nghiêng nghiêng, hai hàng lông mi, như một vầng mây, rủ bóng xuống khuôn mặt đẹp đẽ, thanh tú của cô. Tôi nhìn chăm vào cô, mà cô sao cứ đờ đẫn, hờ hững như thể cô không còn tại thế.

Rõ ràng là có ai đó vừa đậu xe bên ngoài cửa nhà tôi, và rồi gõ cửa, tôi không biết đó là ai cho tới khi kẻ đó thì thầm gọi nhỏ: “Cô Tam Mao!”, tôi kinh hãi đến độ toan co giò chạy,

“Tôi đây.” Tôi bắt đầu nắm lấy tấm liếp cửa sổ, người đứng bên kia cửa, đối diện với tôi nói:

“Cô Tam Mao, tôi không có vé máy bay để mang đến cho cô bây giờ, nhưng tôi vẫn sẽ đưa cô ra phi trường.” Đây là ông tổng giám đốc công ty nơi anh José, chồng tôi, đang làm việc, đang đứng ngoài cửa sổ nói với tôi. “Tôi đã đặt trước được hai chỗ. Cô phải chen lấn với người ta mà vào phi trường. Trước hết, cô cần phải chuẩn bị cho chu đáo. Anh José đã biết chuyện này. Khi ra đi, nhớ khoá kỹ nhà lại. Nhưng, vé thứ hai, cô nhờ tôi đặt cho ai vậy?”

“Chỉ có mình tôi đi! Chỗ thứ hai đó coi như không có, coi như bỏ trống. Cảm ơn ông.”

“Có chuyện gì vậy? Tốn biết bao nhiêu là tiền. Giờ cô lại nói cô không cần chỗ cho người thứ hai nữa là sao?”

“Chết, không đi được nữa.” Tôi trả lời khô khốc.

Ông tổng giám đốc như chết sững, đoạn nhìn đăm vào tôi, rồi lo lắng nhìn quanh: “Tôi nghe là đã và đang có những sự cố xảy ra cho người bản xứ ở đây. Cô có muốn ngủ qua một đêm tại nhà tôi không? Nhà tôi vốn được bảo vệ cẩn thận. Ở đây, không có người Tây Ban Nha ở, không có an ninh đâu!”

Tôi im lặng một lúc khá lâu, rồi lắc đầu: “Tôi sẽ tự xoay xở được. Không sao đâu! Cảm ơn ông!”

Ông giám đốc đứng lại một lúc, búng đầu điếu thuốc cầm trong tay, cúi đầu về phía tôi, nói: “Cửa ngõ, cô nhớ đóng chốt cho kỹ càng. Sáng mai, lúc chín giờ, tôi sẽ đón cô ra phi trường.”

Tôi đóng cái cửa sổ gỗ lại, khoá lại bằng hai vòng dây xích. Tiếng chiếc xe Jeep dần dần tan loãng, rồi cuối cùng chìm tắt hẳn. Sự yên lặng nặng nề làm cho tôi cảm thấy căn phòng thật trống trải, rõ ràng là không còn giống như bầu không khí trước đây nữa.

Đã qua đi một ngày. Tôi, chỉ mặc cái áo ngủ, đứng trước cửa sổ, ngay ngoài cửa sổ một bầy con gái người Sahrawi đang rúc ra rúc rích và rồi nói với tôi: “Cô Tam Mao, mở cửa, mở cửa mau. Tụi tui đã chờ ngoài này lâu lắm rồi. Sao mà cô ngủ nướng lâu vậy?”

“Hôm nay, nghỉ học. Tôi đang trong kỳ nghỉ mà.” Tôi vươn vai và thở sâu xuống tận bụng vài hơi. Ánh sáng khoan thai chiếu xuống những đụn cát sáng rỡ, sạch sẽ, đẹp đẽ ngoài xa xăm kia.

“Lại phải nghỉ học rồi!” Đám con gái la toáng lên một cách tiếc xót.

“Vào lúc nửa đêm lựu đạn nổ làm cho anh José phải té nhào xuống khỏi gường, chúng tôi tung cửa chạy ra ngoài xem, nhưng cũng chẳng thấy gì, thế rồi chỉ ngủ được một lúc, thì trời đã sáng, mà này, có nghỉ học, các em cũng chẳng cần phải ồn ào lên như vậy.”

“Nghỉ học, cô cũng cứ cho tụi tui vào nhà! Vào chơi một chút thôi mà!” Rồi đám con gái đấm thình thịch vào tấm cửa còn đóng kín, thế là tôi đành phải mở cửa.

“Các em như vậy là ngủ say như chết, không nghe được những tiếng nổ lớn?” Tôi vừa nhẩm trà vừa mỉm cười hỏi chúng.

“Sao lại không nghe! Nổ một lúc ba nơi, một tại cổng của đồn lính, một tại trường tiểu học thuộc công ty khai thác mỏ phân lân, một tại cửa cửa tiệm chạp phô của cha anh chàng Ajyeiba.” Bọn con gái phấn khởi kể lại.

“Tin tức đồn thổi rất nhanh. Các em không nên rời khỏi con đường này, và nhớ nghe ngóng tin tức xem sao!”

“Quân du kích càng ngày càng hung dữ.” Đám con gái nói không chút e dè, như thể đang kể lại một tấn tuồng hay, líu la líu lo, múa tay múa chân, nhấp nhấp nhô nhô, căn phòng đầy giọng nói, tiếng cười.

“Thực ra, chính phủ Tây Ban Nha đã lặp lại lời hứa là họ sẽ bảo đảm trao quyền tự quyết.” Tôi thở dài, với lấy cái lược rồi bắt đầu chải đầu.

“Tui sẽ tết tóc cho cô.” Một đứa con gái ngồi chồm hổm sau lưng tôi, xoa nước bọt vào lòng bàn tay mình, chăm chú bện lọn tóc xơ xác, thô tháp của tôi thành những bím tóc dày.

“Lần này, thì do con mẹ Shahida mà ra cả.” Đứa con gái ngồi sau lưng tôi nói lớn. “Chuyện như thế sẽ xảy ra khi cái giống đàn ông, đàn bà cứ yêu nhau xả láng, bất chấp dư luận, nhưng hậu quả là cái quán tạp hoá của cha anh chàng Ajyeiba đã bị nổ tung.” Khi nghe con nhỏ đó nói tiếng “yêu nhau”, đám con gái đằng sau lưng tôi đang nói ồn ào, tự nhiên đứa nào đứa nấy cứ đẩy nhau cười ha hả.

“Có phải cô Shahida làm trong bệnh viện?” Tôi hỏi.

“Thì ai vô đó nữa! Con mẽ mặt dày. Anh chàng Ajyeiba yêu mẽ, nhưng mẽ chẳng yêu anh chàng Ajyeiba, vậy mà con mẽ cứ theo sát anh ta mà chuyện mà trò, anh chàng Ajyeiba rán hết sức theo đuổi con mẽ, thế rồi mẽ lại thay lòng đổi dạ, bám theo ông cảnh sát Afeluat, rồi cứ bám riết ông cảnh sát này, anh chàng Ajyeiba rủ được một bọn du côn đi gây khó dễ với mẽ, mẽ bèn báo cho ông Afeluat biết. Một vài ngày trước đây mấy ổng đánh nhau, rồi tối hôm qua quán của cha anh chàng Ajyeiba bị ăn lựu đạn.”

“Chuyện tào lao! Anh Afeluat không phải là loại người như thế.” Tôi thật không ưa cái đám con gái này cứ dùng óc tưởng tượng của chúng để xét đoán những chuyện vượt lên tầm hiểu biết của chúng.

“Ái chà! Không phải do ông Afeluat đâu, chính là do con mẹ Shahida mà ra cả. Con đĩ ngựa đó, nó quen với du kích…” Tôi xổ bung ra cái bím tóc mà con nhỏ gái đã tết thật đẹp. “Cái tiếng “đĩ ngựa”chỉ dùng cho những người đàn bà xấu xa, gian xảo.” Tôi nghiêm khắc nói. “Cô Shahida là một người Sahrawi, là một nữ hộ sinh giỏi nhất nhì ở đây, làm sao mà có thể gọi cô ta là con đĩ ngựa cho được chớ! Cái tiếng này thiệt khó nghe, từ rày về sau chớ có gọi cô ta như vậy nữa!”

“Con mẽ cứ đeo sát đàn ông con trai mà chuyện trò.” Con nhỏ Fatima, em gái của con nhỏ Gueiga ngồi trước mặt tôi, cắn cắn móng tay sơn son đen, khăn trùm cái đầu tóc cứng đơ trét một loại bùn đỏ, nói lảm nhảm, ngớ ngẩn như một con ma.

“Theo đàn ông mà nói chuyện thì có gì sai? Tôi theo đàn ông nói chuyện mỗi ngày, vậy tôi cũng là con đĩ ngựa hay sao?” Tôi nói và lòng những mong là một ngày nào đó sẽ có dịp gõ vào cái đầu óc đông cứng của tụi nó cho thông ra.

“Còn hơn thế nữa, con mẹ Shahida, con mẽ… con mẽ…” Một cô có tiếng là đức hạnh, má đỏ vì xấu hổ, cứ ấp úng không ra lời.

“Con mẽ cứ bám theo anh này tới anh khác và ngủ với họ.” Con nhỏ Fatima trợn to mắt, tiếp lời, nói chậm rãi từng tiếng, và còn chen vào đôi tiếng cười khinh khỉnh.

“Cô ta bám theo đàn ông và ngủ với họ à! Thế các em có tận mắt thấy không?” Tôi thở dài, không biết phải vui hay cười buồn vì cái tụi con gái này.

“Hừm…, đương nhiên là thấy tận mắt rồi! Ai ai cũng nói vậy. Chẳng ai trong cái thị trấn này mà lại muốn lân la với con mẽ, ngoại trừ cái bọn đàn ông dê xồm, cái tụi không hề muốn cưới cô ta, chỉ muốn chơi cho qua đường thôi.”

“Được rồi, được rồi, đừng nói đến vụ này nữa. Mà này, em còn trẻ mà sao em giống như một mụ già dài miệng như vậy, hả?” Tôi nói rồi tôi xoay người đi vào bếp rót một chén trà, lòng bỗng nhiên cảm thấy chán ngán, mới sáng sớm mà đụng phải chuyện bực mình.

Đám con gái ngồi lổn ngổn trên đất, có đứa chân trần đen bóng, có đứa thân từ trên xuống dưới hôi rình (3), có đứa tóc xoả rối bời tổ quạ, cứ dài mỏ nói miết. Tôi nghe mà không hiểu gì khi tụi nó chuyển qua nói phương ngữ Ả rập Hassaniya, nhưng cái tiếng “Shahida” cứ từ trong những câu nói của chúng vọt ra. Đứa nào cũng tỏ vẻ giận căm và khinh bỉ, những cái bản mặt xấu đau xấu đớn đó, miệng cứ không ngừng xổ ra những câu đầy ganh, ghét.

Tôi tựa vào thành cửa và nhìn chằm vào chúng, và bỗng nhiên hiện ra trước mắt tôi cô Shahida trắng tinh tuyền và thanh lịch, xinh tươi như đoá hoa xuân, một cô gái sa mạc có trình độ giáo dục cao và đẹp đẽ, duyên dáng, vậy mà nhân cách của cô lại bị coi thường đến như thế, thật là chuyện khó hiểu.

Trong thị trấn này tôi có rất nhiều bạn bè người Sahwari: những người bán tem ở bưu điện, gác-dan toà án, tài xế của công ty, người bán tiệm tạp hoá, anh giả mù ăn xin, người dắt lừa tải nước, thủ lãnh bộ tộc có quyền có thế, những người nô lệ không đồng xu dính túi, bô lão, trẻ con hàng xóm, cảnh sát, bọn ăn trộm, thượng vàng hạ cám, tất cả đều là sahabi (bạn) của tôi.

Anh Afeluat là bạn thân của chúng tôi, một anh cảnh sát trẻ tuổi, đã học xong trung học đệ nhị cấp, rồi không đi học nữa, đi làm cảnh sát, có khuôn mặt trẻ thơ, cái miệng với hàm răng trắng đều, đối với người khác thì thật thà, vui vẻ, hoà nhã, làm cho người khác thích được gặp gỡ chuyện trò với anh.

Lựu đạn nổ trong thị trấn là chuyện thường như cơm bữa. Chợ búa vẫn tấp nập như thường, người ta cứ vô tình hay cố ý nói về thời cuộc, nhưng chẳng ai nhận ra, cảm thấy sự nguy hiểm của những biến động này, vẫn sống tĩnh queo như thể mối nguy hiểm còn xa xăm lắm.

Hôm ấy tôi đi bộ ra chợ mua rau quả trở về, thật may tôi thấy anh Afeluat ngồi trong xe cảnh sát lái qua, tôi quay mặt hướng về anh vẫy tay, anh vẫy lại và nhảy xuống xe.

“Anh Afeluat, sao lâu nay anh không ghé nhà chơi?” Tôi hỏi anh. Anh ta cười vui vẻ, rồi không nói năng gì, và cùng đi bộ với tôi.

“Tháng này, anh José làm ca sáng, sau ba giờ chiều thì về nhà, anh đến, chúng ta đấu láo cho vui.”

“Vâng, vài bữa nữa nhất định tôi sẽ tới.” Anh nói, nụ cười còn đọng trên môi, bưng lấy giỏ rau quả của tôi, chu đáo bỏ vào trong xe tắc xi của tôi rồi mới lái xe mình đi.

Chưa được vài ngày thì quả nhiên, vào một buổi tối, anh Afeluat tới. Thật là may gặp lúc trong nhà chúng tôi ngồi đầy các bạn đồng nghiệp của anh José đang ăn thịt nướng xiên que cùng với chúng tôi.

Anh ta đang đứng ngoài cửa sổ, ghé nhìn vào và nói: “A, xin lỗi. Anh chị có khách, tôi sẽ trở lại thăm anh chị lần sau.”

Tôi ngay lập tức ra đón anh, kéo mạnh anh đi vào: “Đang nướng thịt bò, anh vào mà ăn, toàn người quen cả, không sao đâu.”

Anh Afeluat cười cười đưa ngón tay chỉ lại phía sau, tôi liền thấy trong xe của anh có một người đàn bà mặc áo choàng sa mạc màu lam, mặt che, một đôi mắt trong hồ thu hướng về tôi, mỉm cười.

“Cô Shahida?” Tôi cười nhẹ và hỏi.

“Chị làm sao mà biết được là tôi hay vậy?” Người đàn bà kinh ngạc nhìn tôi, không kịp trả lời, tôi nhanh chóng chạy ra nghênh đón người khách chẳng mấy khi đến chơi, mà có kiếm cũng khó mà gặp này.

Khách trong nhà toàn là đàn ông, nên tôi cũng không muốn trì kéo cô ta, nhưng cô Shahida là một người đàn bà phóng khoáng, tự nhiên, cô chỉ chần chừ một chút, rồi cũng bước vào.

Các bạn đồng sự của anh José từ trước tới giờ chưa một lần đối diện một người đàn bà uy phong mẫu nghi như vậy của sa mạc Sahara, tất cả, lịch sự, đứng dậy.

“Mời quý vị ngồi, xin quý vị cứ tự nhiên.” Cô Shahida gật đầu, gật đầu một cách lịch thiệp, tôi đưa cô đến ngồi trên tấm thảm vải bông, và xoay người rót nước khoáng cho anh Afeluat và cô Shahida, khi quay lại nhìn, tôi thấy cô ta đã gỡ tấm khăn trùm đầu xuống. Khuôn mặt của cô toả ra, tôi cũng không chắc là mình diễn tả đúng, sức hấp dẫn của một người mà khi ta nhìn vào, tất sẽ làm ta rờn rợn, trên khuôn mặt trắng như ngà của cô nổi bật lên một đôi mắt đen tuyền, sâu không thấy đáy. Dưới sống mũi dọc dừa là môi miệng đỏ tươi, vóc dáng cô đẹp đẽ như một bức tượng hoàn mỹ. Khi cô vô tình hướng cái nhìn qua một góc, với nụ cười lặng lẽ, cái nhìn ấy như một vầng trăng vừa mới lên ngôi, phủ hết ánh sáng của căn phòng, mọi người bị hớp hồn, ngay cả tôi, trong nháy mắt, ngẩn người ra trước diệu quang chiếu ra từ cô.

Cô vốn có cái vẻ trong sáng và đẹp đẽ những lúc làm trong bệnh viện, bây giờ, vận vào người y phục bản địa, cô lại có một vẻ trang trọng, thanh tao khác người, cô ngồi đó không nói gì, thế mà cô nhưng không đưa chúng tôi trôi vào cảnh mộng xa xưa. Mọi người ngần ngại không muốn nối lại cuộc nói chuyện vừa bỏ dở vì có cô Shahida ngồi đó, và tâm trí họ cứ lãng đãng bâng khuâng, anh Afeluat ngồi được một lúc rồi cùng cô Shahida xin kiếu từ. Cô Shahida đã đi được một lúc khá lâu, mà trong phòng vẫn yên lặng, dường như vẫn còn lẩn khuất trong phòng một cái gì đó có cái đẹp đẽ của cõi thiên thu làm cho người thế cảm động không thể cất thành lời.

“Một người đàn bà đẹp đến như thế, một nhan sắc mỹ lệ đến như vậy, mà cõi thế này có được, thì chỉ có trong huyền thoại.” Tôi rưng rưng thốt lên.

“Cô ấy có phải là người yêu của anh Afeluat?” Có người thầm thì hỏi.

Tôi lắc lắc đầu: “Tôi nào có biết.”

“Cô ta quê ở đâu mà đến ở trong thị trấn này?”

“Nghe nói cô ta là con mồ côi, cha mẹ chết cả rồi, cô ta theo các cô y tá một ít năm, rồi học làm nữ hộ sinh.”

“Chọn anh Afeluat, như thế cô ta cũng có con mắt tinh đời. Anh này là con người rất đàng hoàng.”

Tôi lắc đầu: “Anh Afeluat, anh ta cũng không xứng với cô ta đâu. Có cái gì đó khập khiểng, nhưng tôi vẫn không biết cái khập khiểng đó là cái gì.”

“Tam Mao, sao em cứ lấy mặt mà bắt hình dong vậy?” Anh José lên tiếng.

“Không phải em lấy cái bộ dạng bên ngoài mà nhận xét người, em có cái trực giác là cô ấy không phải là người yêu của anh Afeluat.”

“Anh Afeluat cũng là con nhà gia thế. Cha của anh ta có mấy ngàn dê và lạc đà… ở Miền Nam.”

“Mặc dầu em không biết nhiều về Shahida, nhưng không thể có chuyện cô ta lại đi dây dưa với con trai của một lão phú gia, rốt cuộc dường như trong vùng sa mạc này chẳng có anh đàn ông nào thực sự xứng đáng với cô ấy!”

“Có phải có một anh chàng khác tên là Ajyeiba cũng đang gấm ghé cô ta? Mấy hôm trước anh chàng này cũng vì cô ta mà đánh lộn với anh Afeluat!” Anh José nói.

“Con của lão nhà buôn ấy, suốt ngày lông bông vô tích sự, sống dựa vào ông cha trên phố, tác oai tác quái, cái loại đàn ông tồi tệ ấy làm sao xứng với Shahida mà cứ bám riết cô ta như thế!” Tôi nói giọng khinh bỉ.

Lần đầu ấy, Shahida đến nhà chúng tôi, đến vào ban đêm, dáng dấp yểu điệu và chỉ liếc mắt một cái mà đã làm cho ai ai cũng rúng động tâm can, và rồi người ta cứ mãi khen ngợi cô. Ngay cả tôi, một người nữ như cô, cũng ngây say trước một tuyệt sắc giai nhân như vậy.

“Con đĩ thúi ấy, làm sao mà chị cho nó vào nhà chị? Cô mà cứ tiếp tục làm như thế thì chòm xóm sẽ để ý đến cô.” Con nhỏ Gueiga ngày hôm sau lúng túng khuyên tôi như thế, nhưng tôi chỉ cười cười, chẳng thèm để ý.

“Khi ả ta bước xuống xe với anh chàng Aluefat, tụi tui từ trong cửa ló đầu nhìn ra, con mẽ, thiệt là không ngờ, lại còn tươi cười đến chào hỏi mẹ tui. Mẹ tụi tui kéo tất cả tụi tui vào nhà, rồi đóng cửa cái rầm, làm ả ta thẹn chín cả người.”

“Các người thiệt là quá quắt!” Tôi trợn mắt kinh ngạc, không ngờ trước khi cô Shahida và anh Aluefat vào nhà chúng tôi lúc nãy, đã xảy ra cái trò này.

“Tôi nghe rằng ả ta không theo Hồi giáo, mà theo Công giáo, ả mà chết thì chắc chắn sẽ xuống hoả ngục.”

Tôi yên lặng nhìn con nhỏ Gueiga, chẳng biết nên nói gì. Tôi dẫn con nhỏ ra khỏi nhà tôi. Anh Hamdi/Hamđi cũng vừa mới đi làm về. Anh ta mặc đồng phục sĩ quan Tây Ban Nha, tóc xám mun, mặt nâu nhạt, trông có cái vẻ ta đây.

“Cô Tam Mao, tôi không muốn trách gì cô, mấy đứa con gái của tôi ngày nào cũng đến nhà cô, tôi luôn luôn mong cô sẽ dạy dỗ cho chúng học hành cho giỏi, và hiện nay cô và chồng cô còn giao tiếp với một số người Sahwari khả nghi bên thị trấn, làm sao mà tôi có thể thoải mái để cho mấy đứa con của tôi thân thiết với hai vợ chồng cô được.” Anh ta thiệt nặng lời, nói mà cứ như tát vào mặt, mặt tôi đỏ bừng, nghẹn không nói ra lời.

“Hamdi, anh làm việc cho chính phủ Tây Ban Nha đã 20 năm, anh phải có thái độ rộng rãi một chút, thời thế đang thay đổi…”

“Thời thế thay đổi nhưng truyền thống, tập quán của người Sahwari không cách gì làm cho thay đổi được. Cô là cô, chúng tôi là chúng tôi.”

“Anh Hamdi, cô Shahida không phải là một người tồi tệ, so với người khác, anh là người hiểu biết hơn họ…” Nói tới đây, tôi quá giận, nghẹn ngào không nói thêm được một lời nào nữa.

“Có thứ chuyện nào đáng xấu hổ hơn là sự phản bội tôn giáo của dân tộc mình… Hừ!” Anh ta nói, dẫm chân cái rầm rồi xăm xăm đi về nhà mình.

“Thật khốn nạn!” Tôi chửi, rồi khoá chặt cửa lại.

“Cái Đất Nước này cần thật nhiều sự kiên nhẫn và nhiều thời giờ để văn minh hoá.” Lúc ăn, tôi không thể cầm lòng mà không nói với José như thế.

“Đám du kích lâu nay cũng đã phát thanh tuyên truyền với dân Sahwari chuyện giải phóng nô lệ và giáo dục cho đàn bà, con gái. Dân người ta chỉ nghe hai tiếng ‘Độc lập’ nhưng bỏ ngoài tai tất cả những chuyện khác.”

“Du kích họ phát thanh ở đâu, mà chúng mình không nghe được gì cả là sao?”

“Phát thanh bằng tiếng Ả rập Hassaniya mỗi đêm, từ Algeria phát qua, người địa phương họ nghe được.”

“Anh José, anh có nghĩ tình trạng này sẽ kéo dài không?” Tôi vừa nghĩ ngợi vừa hỏi.

“Anh không biết, toàn quyền Tây Ban Nha ở đây nói là ông sẽ trao quyền tự quyết cho Tây Sahara.”

“Mà Ma rốc đâu có đồng ý, vậy thì làm gì được?” Tôi nghiêng đầu, khua khua đôi đũa. “Thôi, chúng ta ăn đi. Mà em không muốn bỏ nơi này mà đi.” Tôi thở dài, cố nói.

Anh José nhìn tôi và không nói gì thêm.

Mùa hạ, Sahara, bụi cát ngập trời, bụi vần vũ không ngừng, dường như không có ngày nào ngưng, năm tháng dính chặt với nhau bởi cái nóng nung người trong bầu tử khí nặng nề, những ngày lê thê, không cọ quậy gì được, làm cho người ta trở nên lười biếng, buông xuôi, mệt mã trước mọi vật, mọi sự, cảm thấy trống rỗng, vô vị, những ngày mồ hôi ướt đẫm cả lưng, lòng tôi hoàn toàn trống không, thế mà lòng cứ sôi sùng sục. Đa số người Tây Ban Nha ở bên thị trấn bỏ sa mạc, về cố hương trốn nóng. Thị trấn nhỏ hoang vắng giống như một tử thành. Tin tức về sa mạc Sahara, báo đăng mỗi ngày, có những vụ ném lựu đạn lẻ tẻ mà không có ai bị thương. Ở Ma rốc, ngày nào vua Hassan cũng cứ la ó như một gã điên, nhưng dân bản địa thì vẫn bình chân như vại.

Sa mạc vẫn thế, bầu trời vẫn vậy, gió dữ lại gió dữ nơi tận cùng thế giới và cách biệt này, nó giống như thế giới nguyên thuỷ của thời sáng thế, những thuật ngữ như: Liên Hiệp Quốc, Toà án Quốc tế mà người ta gọi là Toà án La Haye (4), và dân tộc tự trị. Đối với nhiều người dân bản xứ, tất cả những thuật ngữ ấy giống như những sợi khói lam hư ảnh mỏng, yếu.

Chúng tôi ư? Chúng tôi vẫn sống và chờ xem, đã có những đồn đãi và chúng tôi không bao giờ tin là những đồn đãi ấy có gì dính dáng đến số phận và tương lai của chúng tôi.

Cứ xế trưa, trời nóng bức, nếu có xe còn đậu ở nhà, tôi luôn luôn gói một ít bánh trái, lái xe tới bệnh viện, cô Shahida và tôi, hai người cùng lẩn trốn vào trong một căn phòng dưới tầng hầm tối tăm, lành lạnh, ngồi xếp bằng trên đất, khâu áo, ăn quà vặt, nói chuyện xưa-nay, chuyện nhảm nhí, chuyện trò thoải mái giống như hai chị em. Cô Shahida cứ mãi kể cho tôi nghe những ngày đẹp tươi thủa ấu thơ sống trong lều. Chuyện kể của cô đứt quãng khi cô kể tới ngày cha cô tạ thế, dường như sau đó chỉ còn một không gian trống không, cô chẳng bao giờ kể cho tôi nghe, tôi cũng không hề hỏi cô.

“Cô Shahida, nếu người Tây Ban Nha rút lui, thì cô phải làm sao?” Có một ngày nọ tôi đã hỏi Shahida như thế.

“Rút lui là rút lui kiểu nào? Trao trả độc lập cho chúng tôi? Để cho Ma rốc chia cắt Đất Nước chúng tôi?”

“Cái gì cũng có thể xảy ra.” Tôi nhún vai, nói đại.

“Độc lập, tôi sẽ ở lại; chia cắt, tôi sẽ bỏ đi.”

“Tôi cứ nghĩ trái tim cô đã thuộc về Tây Ban Nha.” Tôi chậm rãi nói.

“Đây là Đất Nước của tôi, nơi còn mồ mả của cha mẹ tôi.” Đôi mắt của cô Shahida bỗng trở nên nhạt nhoà, dường như trong lòng còn chất chứa những điều bí ẩn, những nỗi đau nào đó mà cô không thể nói ra, cô ngồi đó mà không nói một lời, rồi dường như cô quên bẵng luôn câu chuyện đang nói dang dở.

Mãi một lúc lâu sau cô mới hỏi tôi: “Còn chị thì sao?”

“Tôi hả, tôi không muốn bỏ đây mà đi. Tôi thích nơi này.”

“Ở đây có gì mà hấp dẫn chị đến như vậy?” Cô ngạc nhiên hỏi tôi.

“Ở đây có gì hấp dẫn? Bầu trời, mặt trời, bão cát, cuộc sống đơn độc, vui có, buồn có, ngay cả những con người dốt nát, đối với họ, tôi cũng vừa thương vừa ghét, mà nói thì nói vậy, nhưng đôi khi đầu óc tôi cứ mụ mị, không còn phân biệt cái gì ra cái gì nữa. “

“Chị sẽ làm gì nếu Đất Nước này là của chị?”

“Có lẽ cũng giống như cô thôi, học cái gì đó trong ngành y tế, mà thực ra, có gì khác biệt giữa những cái của tôi và những cái không là của tôi kia chứ?” Tôi thở dài.

“Chị chưa bao giờ nghĩ tới hai chữ Độc Lập?”

“Chủ nghĩa thực dân, sớm muộn gì rồi cũng qua đi, vấn đề là, sau độc lập, cái đám dân hung dữ, ngu dốt này, phải cần bao nhiêu năm để kiến tạo họ thành những con người có năng lực, tôi thì tôi chẳng lạc quan chút nào.”

“Có thể một ngày nào đó.”

“Shahida, cô chỉ có thể nói chuyện này với tôi, tuyệt đối không nói với ai khác.”

“Chị đừng có lo. Các dì phước cũng biết điều này.” Cô cười và đứng dậy, và cô đột nhiên vui vẻ trở lại, cười và nhìn tôi, không còn một chút ưu tư.

“Cô có biết là vẫn còn quân du kích trong thị trấn này không?” Tôi, đầu óc căng thẳng, hỏi.

Cô gật đầu với vẻ lo lắng, rồi chỗi dậy, phủi phủi quần áo, và bỗng nhiên hốc mắt đẫm ướt.

Có một bữa, xế trưa, anh José về nhà, vừa bước vào nhà đã hỏi: “Tam Mao, em có thấy gì không”

“Thấy cái gì? Ngày nay em đâu có ra ngoài.” Tôi vừa lau mồ hôi nơi cổ vừa nghèn nghẹn nói.

“Nào, lên xe đi, chúng ta cùng đi xem.” Anh José nói và với cái vẻ trầm trọng, lôi tôi đi.

Anh lẳng lặng lái xe vòng quanh ngoài hàng rào của một ngôi nhà lớn ở phố, những hàng chữ như những giòng máu, tựa nước sông vỡ đê tràn lan trên những bức tường mà chúng tôi có thể thấy được.

“Họ viết cái gì vậy, anh?” Tôi như chết sững.

“Em nhìn lại cho kỹ đi.”

“Bọn chó Tây Ban Nha cút hãy khỏi Đất Nước chúng tôi! — Sahara muôn năm — Quân du kích muôn năm — Bassiri muôn năm — Chẳng cần Ma rốc, chẳng cần Tây Ban Nha, Dân tộc tự quyết muôn năm — Tây Ban Nha là bọn ăn cướp! Bọn ăn cướp! Quân sát nhân! — Chúng tôi yêu Bassiri — Tây Ban Nha, cút đi!” Tường trắng, tường trắng, máu chảy, máu chảy đập vào mắt chúng tôi, những câu tố cáo đầy u ám, làm cho người ta đổ mồ hôi lạnh như tắm dưới trời nắng chang chang, tôi, giống một người đang an ổn ngủ say, chợt kinh hoàng thức dậy như thể thấy mình bị ai đâm.

“Du kích trở lại thị trấn rồi, hả anh!” Tôi thì thào hỏi anh José.

“Đâu cần phải trở lại, đã có người Sahwari ở trong phố, mấy cái biểu ngữ đâu phải du kích viết.”

“Trong phố, khẩu hiệu vẽ khắp nơi?”

“Vẽ cả ngay trên tường của trại lính. Trong một đêm mà khẩu hiệu khắp nơi, anh chẳng biết lính tráng người ta chia phiên canh gác như thế nào, mà ra như thế?”

Kinh hoảng đột nhiên phủ chụp lấy chúng tôi, xe chạy qua các con đường, mỗi lần thấy người Sahwari là tôi sợ đến thắt cả ruột, cỏ cây cũng thành kẻ thù. Chúng tôi không quay về nhà. Anh José lái xe đến quán cà phê của công ty. Các đồng sự của công ty tụ tập nhau trong căn phòng tối om om, mỉm cười chào nhau, cười mà cười gượng, những ngày tháng hạ vật vờ như trong cơn ngủ lúc này biến mất, thái độ của họ lộ ra bên ngoài, ngoài sự kinh hoàng và lo lắng, còn có dấu ấn của xấu hổ, nhục nhã, ngượng ngùng.

“Liên Hiệp Quốc cử phái bộ quan sát và hoà giải tới, đương nhiên Liên Hiệp Quốc cũng giả vờ cố gắng sai họ đến để họ có ý kiến với chúng ta về vấn đề Sahara.” “Bassiri nghe nói có đi du học ở Tây Ban Nha, học cho tới khi tốt nghiệp đại học luật, ở Tây Ban Nha nhiều năm, không biết làm sao lại về nước đánh du kích chống chúng ta kia chứ?” “Cuối cùng công ty đã làm được gì? Chúng ta sẽ cứ bám trụ hay phải tan hàng?” “Bà xã tui ngày mai sẽ rời khỏi nơi này, rồi sẽ loạn lạc tơi bời.” “Nghe nói không phải chỉ có quân du kích, mà còn có bọn Ma rốc đã lén lút xâm nhập qua biên giới cũng bộn.”

Bốn tuần nay người ta cứ rỉ tai nhau những tin tức mơ hồ, như người mù sờ voi, chẳng ra làm sao cả.

“Đ. M. cái tụi này, ăn còn chưa biết ăn, ỉa còn chưa biết ỉa, mà cứ muốn độc lập này nọ. Tây Ban Nha chúng ta thật là quá rộng lượng. Theo tớ tụi nó dám chửi chúng ta, thì chúng ta phải giết chúng, hừ! Chỉ bảy vạn người, cứ đưa súng ra mà bắn sạch sành sanh bọn chúng nó là êm. Trước đây Hitler cũng xử bọn Do Thái…”

Đột nhiên có một tay có vẻ côn đồ mà chúng tôi chưa từng biết, đưa tay giộng một cái rầm xuống bàn, rồi đứng phắt lên, mặt đỏ như gấc, hung hăng nói, bắn cả nước miếng ra, hai mắt lòi ra như hai trái lựu đạn, hai tay vung lên vung xuống, giận dữ xua ngang xua dọc như điên dại: “Chém tụi Sahrawi và giết lũ chó thì cũng chẳng có gì khác nhau. Mà chó thì nó còn biết điều hơn bọn người này, nó còn biết vẫy đuôi cảm ơn người cho nó ăn…”

“Ui cha, ui cha!…” Tôi kêu lên, nghe hắn nói, giọng hắn nói không còn giống giọng người nữa rồi, lúc đầu tôi có thiện cảm với người Tây Ban Nha, nhưng rồi khi nghe những lời quá khích của anh chàng này, lòng tôi liền xoay hướng, anh José sững sốt, ngước mặt nhìn gã. Những người bao quanh, không ngờ, có hơn nửa nghe hắn nói những lời điên rồ như thế mà lại vỗ tay hoan hô hắn.

Gã đàn ông nuốt nước bọt, chộp lấy ly rượu, ực một ực lớn, và bỗng nhiên thấy tôi ngồi đó, gã nói ngay: “Thực dân không phải chỉ có Tây Ban Nha, những dân khác như dân Tàu Hương Cảng cũng hăng hái bợ đít tụi Anh, trong mấy năm gần đây, cái mô đen này, tụi Sahwari sao lại không thấy bắt chước mà làm…”

Tôi còn chưa kịp nhảy dựng lên, anh José đã đập bàn cái rầm, đứng lên toan xông lại núm lấy gã để đấm. Mọi người bỗng nhiên nhìn vào chúng tôi. Tôi, trong tuyệt vọng, níu anh José lại để anh khỏi xông tới. “Hắn chỉ là một thằng vô học, lỗ mãng, anh hơi đâu mà đôi co với thằng chã mà làm gì!”

“Cái thằng ăn nói quàng xiên như thế, mà anh bảo em bỏ qua cho được à? Theo như hắn ta, những người không thần phục sự thống trị của ngoại nhân, thì cũng như đám ruồi xanh phải giết chết hết. Các bạn, người Đài Loan, ngày xưa đã kháng chiến chống Nhật, hắn có biết chăng?” Anh José hét, còn tôi, tôi dộng chân xuống đất, rồi đẩy anh José ra ngoài,
“Em không tán thành chủ nghĩa thực dân, nhưng, vì thể diện của Tây Ban Nha, chúng ta phải ăn nói làm sao cho xuôi, chứ anh lại đánh lộn với chính đồng bào của anh, thì anh sẽ bị kết án là kẻ không yêu nước, thương đồng bào của anh, vậy thì có ích lợi gì đâu?”

“Con sâu làm rầu nồi canh… hừ, như thế thì làm sao mà người Sahwari ưa chúng ta cho được?” Anh José trở nên buồn bã thực sự. “Bên mười, bên chín rưỡi còn dư, một đàng quân du kích gọi chúng ta là chó, một đàng nghe những lời tương tự từ miệng những người của chính phe mình, anh những muốn độn thổ luôn. Thiệt là khổ! “

“Lúc đầu chuyện này có thể giải quyết trong hoà bình. Nếu Ma rốc không tính chuyện chia cắt, họ sẽ không gấp gáp đòi độc lập kiểu này.”

“Tam Mao, em phải quan sát kỹ tình hình chung quanh, em phải rời khỏi đây ngay, và tìm một nơi nào đó mà tránh bạo loạn, hết loạn rồi trở lại có được không?”

“Em?” Tôi cười to chế nhạo anh José. “Em không đi đâu hết. Tây Ban Nha còn quản trị nơi này một ngày, em sẽ ở lại một ngày, ngay cả khi Tây Ban Nha tháo chạy, chưa chắc em sẽ chạy theo họ.”

Đêm hôm đó có lệnh giới nghiêm trên toàn thị trấn, loạn lạc thì cũng giống như nước lũ tràn xuống đồng bằng thôi, rồi lại rút đi, ban ngày trên đường, cảnh sát Tây Ban Nha cầm súng chỉa vào người bộ hành, người nào người nấy cứ tựa thân vào tường mà vái lia vái lịa, bị ra lệnh phải cởi quần áo ra để cảnh sát khám xét. Sáng sớm nên chẳng có người trẻ tuổi nào, chỉ thấy có ông già bà lão, giơ hai tay lên, mắt hấp háy, để cho người ta sờ trên, nắn dưới, cái kiểu lục soát này làm cho người ta tức tối, mà chẳng mang lại kết quả nào. Du kích, bộ họ ngu đến cỡ đeo súng khơi khơi để bị khám xét hay sao?

Tôi đi đến bệnh viện để cố kiếm cô Shahida, người giữ cổng nói cho tôi biết là cô ấy đang đỡ đẻ ở tầng hai. Lên được lầu hai, chưa bước được bước nào, đã thấy cô Shahida chạy ra hớt ha hớt hải, và đụng vào tôi cái rầm.

“Có chuyện gì vậy?”

“Không có chuyện gì cả, đi, chúng ta đi ngay!” Cô ta kéo tôi xuống lầu.

“Bộ cô không đỡ đẻ hay sao?”

“Người nhà của bà ấy không muốn tôi đỡ đẻ cho bà.” Cô ta bĩu môi, nhún vai nói. “Trường hợp đẻ khó, phải vào nhà thương, gần chết đến nơi, thế mà tôi vừa ló đầu vào, thì bọn họ đã chửi tôi như tát nước, tôi…”

“Bọn họ sao mà gây khó dễ với cô vậy?”

“Tôi đâu biết, tôi…”

“Sao cô không tính chuyện kết hôn đi cho yên chuyện. Cứ đi vô đi ra với anh Afeluat như vậy thì, theo phong tục ở đây, họ không chấp nhận đâu.”

“Không phải Afeluat đâu.” Cô ta ngẫng đầu lên, gấp gáp phân bua.

“Hả!” Tôi kinh ngạc kêu lên.

“Chính vì anh chàng Ajyeiba và băng đầu gấu chúng nó cứ kiếm cách gây khó dễ với tôi, tôi bất đắc dĩ phải…, nỗi khổ của tôi, tôi có thể giải bày với ai được đây?” Cô đột nhiên chảy nước mắt, rồi phóng chạy như tên bay.

Tôi từ từ đi dọc hành lang, rồi đi qua khuôn viên của nữ tu viện, một đàn trẻ em đang ngoan ngoãn uống sữa bò, giữa đám trẻ có một em nhỏ người Sahwari, bong bóng sữa còn trên mép môi, dường như đang thích thú với chòm râu mép sữa trắng và dài của em. Tôi bồng em lên, bồng ra nơi có nắng và đùa giỡn với em.

“Cô kia, bồng cháu bé đi đâu?” Một nữ tu trẻ chạy nhanh lại.

“Con đây mà, thưa dì.” Tôi vừa cười vừa chào,

“Cô làm cho tôi sợ hết hồn.”

“Chú bé này thật đẹp, và mạnh như thế này.” Tôi chú ý đến đôi mắt to và đen láy của chú bé, tay xoa xoa mái tóc xoăn của chú.

“Bé bao nhiêu tuổi rồi, thưa dì?”

“Bốn tuổi.” Người nữ tu hôn hôn đứa bé.

“Hồi Shahida được đưa đến đây, cô ta đã lớn chưa?”

“Cô ấy, khi được nhận vào đây, thì đã lớn bộn, 16, 17 tuổi gì đó.”

Tôi mỉm cười chào tạm biệt người nữ tu, rồi lại cúi xuống hôn thằng bé, nó thẹn thùng cúi đầu xuống sâu, sâu hết mức. Cái kiểu cúi đầu thẹn thùng tôi thấy quen quen này chợt thoáng qua trong trí nhớ tôi, đứa bé này giống ai đây?

Trên đường phố có lính đi tuần, các dinh cơ của chính phủ, kẽm gai bao lớp trong lớp ngoài, con kiến cũng khó lọt, trước trụ sở nhỏ xíu của hãng máy bay hàng hàng lớp lớp thuỷ triều người nhẫn nại đứng chờ, bỗng xuất hiện một toán ký giả mặt mày lạ hoắc, tựa như một đám du côn, phóng tới phóng lui, sự hỗn loạn đầy lo lắng và ồn ào khiến cho cái tiểu thị trấn lâu nay an ổn bây giờ bị bao phủ bởi một màn điềm xấu của một cơn bão sắp tới. Tôi nhanh chóng trở về nhà, thấy con nhỏ Gueiga đang ngồi trên bậc thang đá.

“Cô Tam Mao, mẹ Tebrak của tui, nhờ tui hỏi liệu cô hôm nay có tắm cho thằng Khalifa được không?” Khalifa là con trai nhỏ tuổi nhất của bà hàng xóm tên là Tebrak, nó bị bịnh da liễu đã lâu, cứ cách vài ngày, nó được bồng đến đây để cho tôi tắm với xà bông sát trùng.

“Ồ, cần tắm hả? Bồng em lại đây.” Tôi, người như mất hồn, mở khoá cửa nhà và lơ mơ nói.

Thằng nhóc Khalifa, ngồi trong chậu tắm, đôi mắt to cứ liếc qua liếc lại tỏ vẻ không chịu tắm.

“Cưng, bây giờ cưng phải đứng yên. Đừng có làm nước bắn tung toé ra ngoài.”

Tôi quỳ xuống và rửa chân cho thằng nhỏ, nó cầm lấy bàn chải sũng nước, gõ gõ vào cái đầu đang cúi xuống của tôi: “Giết José trước, rồi giết cô sau, giết José trước rồi giết cô sau…” Nó vừa gõ vào đầu tôi vừa hát như hát bài đồng giao, phát âm thật rõ ràng. Khi chợt hiểu thằng nhỏ đang hát gì, tôi nghe như có ai vừa phang vào tai tôi, tôi phải cố hết sức để đứng vững, đoạn tôi giữ chặt thằng Khalifa, lấy cái khăn lớn bao quanh thân nó và bồng vào phòng ngủ.

Một vài bước ngắn ngủi đến phòng ngủ mà tôi cứ như bước trên vải bông xốp, như bước trong hư không, bước cao bước thấp, không biết làm sao mà mình vào được phòng ngủ, nhè nhẹ lau khô thằng Khalifa, mà người chết sững.

“Khalifa, cưng nói cái gì vậy? Cưng, nói lại cho cô nghe đi cưng!”

Thằng nhỏ vươn tay lấy cuốn sách của tôi bỏ bên gối, cười vui vẻ nhìn tôi, nói: ““Du kích đến, a, a, a, giết José, giết Tam Mao, hi, hi, hi.” Thằng nhỏ lại chụp lấy cái đồng hồ báo thức trên cái bàn ngủ. Tôi cứng họng không còn biết nói năng gì nữa. Tôi như ngẩn như ngơ lấy cái áo của của anh José mà trùm cho nó, mở cánh cửa chẳng mấy khi mở của nhà bà hàng xóm Tebrak mà đi vào, và trao thằng nhỏ cho mẹ nó.

“Ôi, cảm ơn, cảm ơn cô, Khalifa, cảm ơn cô đi con!” Bà Tebrak âu yếm nhận lại đứa con, và vừa cười vừa nói với con.

“Du kích giết José, du kích giết Tam Mao.” Thằng nhóc vừa nhảy tưng tưng trong lòng mẹ vừa lấy tay chỉ vào tôi và hét.

“Tao phải giết mày.” Bà hàng xóm Tebrak nghe thằng nhỏ hét lên như thế, liền thả nó xuống rồi đánh nó, khuôn mặt ngay chính, hiền lành của chị ta trở nên đỏ gay, và hét lên.

“Đánh nó mà làm gì, con nít nó đâu có biết gì!” Tôi thở dài buông xuôi.

“Xin lỗi, xin lỗi cô.” Bà Tebrak bắt đầu khóc, thấy thế, tôi chỉ biết cúi đầu.

“Xin cô đừng có cái nhìn phân biệt chủng tộc đối với chúng tôi. Chúng ta đều là con của Maulana cả.” (Maulana có nghĩa là Chúa trong tiếng Ả rập Hassaniya.)

“Chị Tebrak, tôi không có phân biệt chủng tộc gì ráo trọi. Thằng nhỏ nó mến tôi, nó cứ theo tôi miết, chúng tôi không phải là loại người đó.”

“ Xin cô tha lỗi, xin lỗi, xin lỗi.” Bà Tebrak nói rồi lại nói, rồi xấu hổ khóc, lấy chéo áo lau mắt không ngừng.

“Chị Tebrak, sao mà chị nói tầm phào thế, toàn nói chuyện buồn cười.”

Anh của con nhỏ Geigua, là Bashir, bước vào, cười nhạo mẹ nó, rồi nghiêng mặt nhìn tôi, vén rèm cửa, đi ra.

“Chị Tebrak, chị đừng có buồn, bọn tuổi trẻ tụi nó suy nghĩ khác tụi mình. Chị không cần phải buồn phiền làm gì cho mệt.” Tôi vỗ vỗ vai bà Tebrak rồi đứng dậy, trong lòng bỗng cảm thấy, như thủa thiếu thời, bị người ta làm trái sự mong đợi của mình mà không biết mình đã làm gì sai, tôi lướt ra ngoài như lướt mây, cỡi sương.

Tôi ngồi đờ đẫn trong nhà, đầu óc trống rỗng, anh José bước vào cửa cùng với anh Afeluat hồi nào tôi cũng không hay. Afeluat cất tiếng:

“Chị Tam Mao, xin anh, chị ngày Chủ Nhật này, làm ơn đưa tôi ra khỏi thị trấn với.”

Tôi vẫn đang còn chơi vơi trong thế giới khác, không nghe rõ anh ta nói gì.

“Xin anh chị giúp đỡ tôi, tôi phải thoát ra khỏi thị trấn để về nhà tôi.”

“Cái gì?”

Anh Afeluat nói thẳng ra: “Tôi không thể tự mình thoát ra được vì ngoài kia du kích khắp nơi. Bảo đảm sẽ an toàn, không sao đâu!”

“Anh cũng có xe mà!” Hôm ấy không hiểu tại sao tôi chẳng những mất hồn mà còn mất cả sự lễ độ, hoàn toàn mất hết tâm tính để nói chuyệnn kiểu như thế.

“Chị Tam Mao, tôi là người Sahwari, hiện nay cảnh sát Tây Ban Nha không cấp phát giấy thông hành cho xe của người địa phương. Chị bình thường là một người biết điều, sao hôm nay chị lại tỏ ra giận dữ như vậy?” Anh Afeluat nhẫn nại nhìn tôi, nói.

“Bộ anh không phải là cảnh sát hay sao, mà sao bây giờ anh lại nhờ tôi?”

“Tôi là cảnh sát, nhưng tôi cũng là người Sahwari.” Anh ta cười đau khổ.

“Anh ra khỏi thị trấn, nhưng chớ có gây liên luỵ gì cho chúng tôi, phải trái gì không cần biết, du kích sẽ giết bừa chúng tôi thôi, rồi quẳng chúng tôi như quăng xác chó cho các người xem cho mà xem.” Tôi không biết sao tôi lại không cầm lòng được và hét lên như thế, nói xong thì bật khóc, cứ để cho mình khóc tự nhiên như một đứa bé.

Anh José thay đang thay quần áo thì nghe tôi khóc, vội vội vàng vàng chạy ra, anh và anh Afeluat, hai người nhìn nhau hằm hằm.

“Tam Mao làm sao vậy?” Anh José nhíu mày, nhăn mặt, miệng chu lại, hỏi anh Afeluat.

“Tôi đâu có biết, tôi nói đàng hoàng với chị ấy mà, không biết sao chị ấy lại nổi tam bành như vậy.” Anh Afeluat lúng túng nói.

“Được rồi, tôi có điên đi nữa, thì cũng chẳng liên quan gì đến anh.“ Tôi chụp lấy khăn vệ sinh, lau nước mũi, lau mặt, thở sâu, rồi ngồi lên chiếc ghế bành và nhìn trừng vào khoảng không. Nghĩ lại những ân tình mà cha mẹ và anh, chị của anh Afeluat đã dành cho tôi, tôi cảm thấy hối hận vì mình đã bộp chộp, nóng nảy, tôi liền làm lành:

“Sao anh lại rời thị trấn vào lúc này trong khi tình hình còn rối loạn?”

“Ngày hôm nay sẽ là ngày xum họp của toàn thể gia đình chúng tôi. Từ sau khi loạn lạc nổi lên, chúng tôi ít khi trở lại nhà chúng tôi ở sa mạc.”

“Có còn lạc đà ở đó không?” Anh José hỏi.

“Đã bán cả rồi, các anh của tôi cần tiền, bán sạch, chỉ còn một ít dê mà thôi.”

“Tại sao lại cần nhiều tiền đến mức bán sạch cả gia sản như thế?”

Tôi cảm thấy thư thái nhiều và cơn giận đã hạ xuống.

“Này anh Alfeluat, Chủ nhật chúng tôi sẽ đưa anh ra khỏi thị trấn, anh phải bảo đảm là tối anh sẽ trở lại, để khỏi phụ lòng chúng tôi, bạn anh.” Anh José lẵng lặng, chậm rãi nói.

“Vâng, đây chỉ là một cuộc họp mặt gia đình, anh chị cứ an tâm.” Anh Afeluat vỗ vỗ vai anh José, nói với một giọng điệu thấm đẫm lòng biết ơn chân tình. Chuyện này coi như đã giải quyết xong.

“Anh Afeluat, anh không phải là du kích, làm sao mà anh có thể bảo chúng tôi cứ an tâm là sao?” Tôi hỏi, lòng đầy lo lắng.

“Chị Tam Mao, chúng ta thực sự là bạn của nhau, chị cứ tin vào tôi, tôi bắt đắc dĩ mới tới nhờ anh chị, nếu không chắc chắn thì làm sao tôi lại đến làm phiền anh chị mà làm gì? Ai ai cũng có cha, có mẹ lo lắng cho chúng ta.” Tôi thấy anh ta nói thật lòng, nên không hỏi vặn thêm nữa.

Người lính gác trạm kiểm soát nhận hai thẻ căn cước màu lam của hai chúng tôi và một thẻ căn cước màu vàng của anh Afeluat.

“Tối, liệu mà trở về, coi chừng trên đường có tụi theo Bassiri.” Anh lính gác vẫy tay cho qua, câu nói cuối cùng của anh lính gác làm cho tim tôi đập loạn xạ.

“Phải lái cho nhanh, mất ba tiếng cả vòng đi vòng về, đi sớm về sớm.” Anh José nói.

Tôi ngồi ghế sau, anh José và anh Afeluat ngồi ghế trước, để cho chuyến đi được thoải mái, chúng tôi mặc đồ đi sa mạc.

“Đêm hôm có nhớ đường mà về không vậy?” Tôi bồn chồn hỏi.

“Tam Mao, em cứ yên tâm, mấy ngày này em cứ hỏi tới hỏi lui hoài một câu hỏi này.“ Anh José nói, anh Afeluat phá lên cười, xe ra khỏi thị trấn, anh ta trở nên hoạt bát hơn.

“Sao cô bồ Shahida của anh lại không đi với anh?” Tôi hỏi.

“Cô ta phải trực ca.”

“Nói đúng ta, cô ấy sợ, phải không nào?”

“Các người làm ơn đừng nói nữa, anh Afeluat, anh chỉ đường cho tôi, để tôi lái cho nhanh hơn.” Anh José nói.

Chung quanh toàn là bầu trời xám mênh mông, mặt trời rạng đông toả ra những tia nắng u u từ lớp lớp mây dày, buổi sáng ở sa mạc trời còn rất lạnh, vài con chim bay lòng vòng trước mũi xe kêu quang quác, trời đất hoang vắng, mênh mông.

“Tôi ngủ một chút. Thức dậy sớm quá.” Tôi nói rồi co mình trên băng ghế sau và nhắm mắt lại, lòng nặng trĩu như bị đá đè, khó mà vui lên được, tốt nhất là đừng nhìn vào sa mạc lúc này, nếu nhìn, tôi sợ sẽ thấy xuất hiện đột nhiên trên chân trời một người nào đó mà mình không muốn gặp. Chợp mắt được một lúc khá lâu, tôi cảm thấy xe cứ xóc xóc hoài, rồi xe chầm chậm ngừng lại. Tôi cảm thấy nóng, đạp tung cái khăn đang trùm, bỗng nhiên, cửa sau bị mở ra, tôi kinh hãi, hét lên: “Ai vậy?”

“Em của tôi đấy, nó từ xa lặn lội đến đây để đón chúng ta.” Anh Afeluat trả lời. Tôi mơ mơ màng màng đứng dậy, dụi mắt, thấy một khuôn mặt đang nhoẻn miệng cười, đầy vẻ tươi mát của một thiếu niên ngây thơ.

“Ồ, có phải là Mahommad đấy không?“ Tôi cười cười đưa tay ra vẫy. “Chúng ta gần đến chưa?” Tôi chỗi dậy mở cửa.

“Trước mặt đây này! Gia đình em đã dời chỗ ở, năm ngoái gia đình đâu có ở đây. Lạc đà bán hết rồi, nên hầu như chỉ sống ở đây.”

Tôi thấy cái lều lớn của gia đình Afeluat xa xa , trái tim tôi căng thẳng sáng tới giờ, bây giờ mới cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái. Người mẹ xinh đẹp của anh Afeluat dắt hai đứa em gái của anh, như ba điểm đen từ trời cao, bay về phía tôi.

“Salaam alaikum!/Bình anh của Chúa hằng ở cùng anh/chị!” Hai đứa em gái, reo lên và phóng về hướng người anh, rồi liền nhào lại bên tôi, hai tay kéo cổ tôi xuống, khuôn mặt ngây thơ, đẹp đẽ, chiếc áo choàng sa mạc sạch sẽ, hàm răng trắng và sạch, đôi bím tóc mới chải sáng bóng, toàn thân toả ra sự tươi mát của Mẹ Đất mênh mông. Từng bước từng bước nhỏ tôi đi lăm xăm tới bên cạnh mẹ của anh Afeluat vừa rời vòng tay ôm của con trai mình.

“Salaam alaikum!/ Bình an của Chúa hằng ở cùng bà, bà Yasmin!”

Bà từ tốn giang đôi tay ra, bà mặc y phục màu lam, tóc bới thành lọn buông thấp, từ ái đón tôi. Mặt trời bây giờ mới thực sự xuất hiện, bầu trời sau lưng bà, không biết tự lúc nào, không còn có mây xám, mà xanh biếc như thể vừa được rửa bằng nước trong.

“Các em ơi, mau ra ngoài xe mà lấy mấy xấp vải vào, chị cũng mang đến cho các em mấy chuỗi hạt ngũ sắc.” Tôi vừa xua xua đám dê chạy nhảy loạn xạ, vừa hướng về mấy đứa con gái kêu lên.

“Cái này thì biếu cha.” Anh Afeluat hai tay đưa cho cha hai hũ thuốc hít. “Còn có hộp bánh nữa, ra mà lấy, cả hộp bột ca cao nữa.”

Mọi sự diễn ra giống như trong một thế giới yên bình, thịnh vượng, trở về nhà, thăm người thân, như mỗi lần tôi đến thăm, không có gì thay đổi, tôi thong dong bước tới chiếc lều.

“Con là Tam Mao đây, thưa tộc trưởng!” Tôi sải bước, cha của anh Afeluat tóc đã trắng cả đầu, không đứng dậy, chỉ ngồi và đưa tay lên.

“Salaam alaikum!/ Bình an của Chúa hằng ở cùng ông!” Tôi quỳ xuống, dùng đầu gối bò lại, từ xa đưa tay phải ra, nhè nhẹ rờ trên đỉnh đầu của ông, lão nhân là người duy nhất mà tôi chào hết mực tôn kính như thế.

Anh José cũng đi vào, tới gần ông lão, ngồi trên đầu gót chân và sờ vào đầu ông, sau đó mới ngồi xếp bằng trước mặt ông.

“Tới lần nầy, ở lại đây chơi vài ngày chứ?” Ông già hỏi bằng tiếng Pháp.

“Tình hình chính trị bất ổn, chúng con phải trở về tối nay.” Anh José dùng tiếng Tây Ban Nha để trả lời.

“Tây Ban Nha các người sắp bỏ Sahara, có phải không?” Lão nhân thở dài hỏi.

“Gặp thời thế, thế thời phải thế thôi, thưa ông.” Anh José nói.

“Ôi, chiến tranh! Đâu còn những ngày thái bình thửa trước.”

Lão nhân mần mò trong túi áo một lúc và lôi ra một cái kiềng chân bằng bạc khá nặng, và ra hiệu cho tôi lại gần, tôi bò lại, nghiêng mình về phía ông.

“Con hãy mang đôi kiềng này, mà ta đã lâu nay để dành cho con.” Tôi nghe nhưng không hiểu Pháp ngữ, tuy nhiên nhìn vào ánh mắt của ông, tôi hiểu, tôi liền đưa hai tay ra đón lấy, cởi xăng đan ra, đeo đôi kiềng vào chân, đứng dậy, chập chững bước vài bước.

“Zwayna! Zwayna!/ Đẹp lắm! Đẹp lắm!” Ông lão reo lên bằng phương nữ Ả rập Hassaniya. Tôi hiểu, và vừa dịu dàng đáp lại, cũng bằng tiếng Ả rập: “ Haqq!/ Thưa vâng!” vừa nhìn lại không ngơi cườm chân đang đeo món trang sức đẹp đẽ.

“Mấy đứa em gái, đứa nào cha cũng cho một đôi, mấy em nó còn nhỏ, cha tôi cho cho cô trước.” Anh Alfeluat nói chen vào một cách thân tình.

“Xin phép ông cho con được đi ra ngoài.” Ông lão gật đầu, tôi liền chạy ra khoe với bà Yasmin đôi chân của tôi.

Hai chị em gái lúc ấy đang đuổi bắt con dê và sắp giết thịt, vừa mới châm lửa lên với những cây gai khô, bếp lửa buông lên những làn khói lam uốn lượn vào không trung.

Tôi và bà Yasmin đứng đó nhìn ra bãi hoang trống không, mênh mông, lúc trước bọn họ cắm lều xa hơn về hướng Nam, có láng giềng chung quanh, nay không biết vì sao mà di chuyển tới nơi xa vắng này.

“Sahara đẹp như thế này!” Bà Yasmin duyên dáng đưa đôi tay ra, ca ngợi vùng đất của bà, như những lần trước tôi đến thăm. Cái thế giới chung quanh, qua cánh tay ảo thuật của bà, dường như bỗng biến thành những tiếng trầm trồ đầy tràn ý thơ, chỉ bước vào một bước nhỏ, thật nhỏ, mà toàn thể tâm can, ý tưởng của tôi đã vướng luôn trong cõi thế ấy của bà.

Trên thế giới này không có một Sahara thứ hai, chỉ đối với những người yêu nó, nó sẽ hiện ra, mỹ lệ và dịu dàng, nếu bạn đặt tình yêu của bạn vào lòng Sahara, Sahara sẽ hiện ra, trả ơn tình ấy bằng trời đất vạn cổ bất biến, lặng lẽ hứa sẽ che chở bạn, cầu chúc cho con con cháu cháu của bạn được sinh trong lòng của Sahara, giữa cái mỹ lệ, vẻ hiền hoà của Sahara.

“Bây giờ thì phải giết dê, để tôi đi kêu Afeluat.” Bà Yasmin nói, tôi chạy trở lại lều.

Anh Afeluat đã đi ra đến chỗ giết dê, tôi nằm dài trên đất, hít nhè nhẹ mùi khoai môn từ tấm chiếu đất này, người ở gia đình này, vốn không có mùi hôi thân thể, họ rất khác những người khác.

Một lúc lâu sau, Afeluat khều khều tôi: “Giết dê xong rồi, cô có thể đến xem.” Đối với chuyện sát sinh, tôi phải gồng mình lắm mới đến xem được.

“Hai con dê lớn như thế này, ăn có đủ không?” Tôi đứng cạnh bà Yasmin, hỏi.

“Vẫn không đủ đâu! Còn đang chờ mấy anh tụi nó sắp về thăm nhà, và khi anh và cô trở lại nhà, anh và cô có thể mang về một cục, nấu thêm một nồi bo bo hạt nhỏ mà ăn kèm, thì rất ngon.”

“Từ trước đến giờ tôi chưa hề gặp các anh của Afeluat.” Tôi nói.

“Mấy đứa nó cứ mãi đi xa, đã bao năm nay, khó mà về thăm nhà. Chao ơi, các bạn đến đây đã ba, bốn bận rồi, mà mấy đứa chỉ về thăm có một lần.”

“Khi nào thì các anh ấy về, thưa bà? Và về thăm rồi không trở lại nữa?”

“Ồ, chúng đang trên đường về.” Bà Yasmin lặng lẽ nói, rồi ngồi xổm xuống làm chuyện bếp núc.

“Ở đâu? Thấy có người nào đâu?” Tôi kinh ngạc hỏi.

“Cô nghe cho kỹ đi!”

“Nghe gì, nghe họ nói đang nói chuyện trong lều?”

“Cô không nghe được đâu. Cô không thính lực để nghe ra.” Bà Yasmin vừa cười vừa nói.

Một lúc sau, tôi nhìn ra một vệt bụi vàng tung lên cuối chân trời, giống như khói bốc lên trời rồi tan ra, không thể thấy cái gì đang tiến về phía chúng tôi, đang đi hay đang chạy, lạc đà hay xe.

Bà Yasmin từ từ đứng lên. Những hình tượng trên đất cát dần dần hiện ra, đích thị là một đoàn xe Jepp màu hoàng thổ đang dàn hàng ngang chạy ào ào, ngang tàng thẳng về phía chúng tôi. Khi xe vào trong tầm nhìn của tôi, tôi thấy rõ có người trên xe, họ từ xa lái tản ra dần dần, rồi lái vòng quanh lều, và chạy tách ra từng cái cho tới khi không còn thấy rõ cái nào ra cái nào.

“Bà Yasmin, bà có chắc chắn đó là người nhà của bà không?”

Cảm thấy có một cái gì đó thật bi tráng đẫm màu trong không khí, tôi tự dưng kéo chéo áo của bà Yasmin.

Lúc này chỉ có một xe với một nhóm người bịt mặt ngồi trong , hướng về phía chúng tôi mà xông tới.

Tôi run lên như bị trúng hàn, chân như bị đóng đinh một chỗ, tôi cảm thấy cái nhìn chòng chọc giống như cái nhìn của chim ưng từ chính người đầu trùm khăn đang tiến tới.

Hai đứa em gái và thằng em trai kêu ré lên, rồi phóng nhanh về phía xe, reo hò mà như khóc.

“Ôi, anh, anh, anh…” Hai đứa em gái bổ nhào vào một người trong nhóm vừa xuống xe, rồi oà khóc nức nở.

Bà Yasmin giang tay ra, miệng lúng búng gọi tên từng đứa con của mình, khuôn mặt thanh tú, không biết tự lúc nào, lệ sa ràn rụa.

Năm đứa con trai, đứa trước đứa sau, theo nhau lặng lẽ sà vào vòng tay của người mẹ nhỏ nhắn, xinh xắn như sà vào trong vòng tay tình nhân, bất động, mảy may không một tiếng động. Anh Afeluat ra khỏi lều trước tiên, ôm các anh em trai trong thinh lặng, chung quanh lặng như tờ, họ đứng trơ như vừa bị điểm huyệt.

Anh em từng người một bò vào lều, quỳ xuống và sờ nhẹ vào đỉnh đầu của cha già, lâu lắm rồi cha con mới gặp lại nhau, lão nhân cũng vui mừng, cảm động không cầm lòng được, ràn rụa nước mắt trên đôi má.

Thế rồi họ tay bắt mặt mừng với anh José, rồi nắm tay tôi kêu lên: “Chị Tam Mao.”

“Anh chị đây là anh em mình, không phải là người ngoài.” Anh Afeluat hào hứng nói, mọi người đều trùm khăn, trông giống y như anh Afeluat, dung mạo và thân thể cực kỳ đẹp, làm nổi rõ chiếc miệng với hàm răng trắng đều.

Tôi thấy là khi họ muốn cởi áo chiếc áo chùng sa mạc ra, họ nhìn anh Afeluat như hỏi ý, anh Afeluat gật đầu.

Khi họ đã nhẹ nhàng cởi áo chùng ra, năm bộ quần áo du kích màu vàng, đột nhiên bốc sáng như lửa, làm nhói cả đôi mắt tôi.

Anh José và tôi không có thời gian nào để nhìn nhau, cả hai chúng tôi đã biến thành tượng đá. Tôi cảm thấy như tôi bị lừa, máu của toàn thân tôi, như chỉ bằng một nhát cọ, sơn đỏ cả mặt tôi, anh José cũng đứng trơ ra đó.

“Anh José, xin anh đừng hiểu lầm, hôm nay đơn thuần chỉ là một ngày gia đình đoàn tụ, chứ không có ý nào khác, tôi ngàn vạn lần xin lỗi, và ngàn vạn lần xin anh hiểu cho tôi.” Anh Afeluat vội vàng giải thích, mặt đỏ gay.

“Chúng nó tất là waladi, xin đừng giận, anh José, chúng nó là waladi của tôi.” Trong những lúc như thế này chỉ có người phụ nữ, như nước làm rã đất, mới khai thông được bế tắc. (Waladi có nghĩa là con trai.)

Tôi đứng dậy, đi ra ngoài với bà Yasmin để cắt thịt dê, rồi nghĩ lại, tôi vẫn còn thấy bức bối trong lòng không còn chịu đựng được nữa, tôi quay phắt lại lều và nói thẳng vào mặt anh Afeluat: “Anh Afeluat, anh đã đánh lừa chúng tôi, sao mà anh có thể trơ mặt bóng mà làm được cái chuyện táo bạo như vậy?”

“Xin thú thật, quả thực Afeluat ra khỏi thị trấn không phải dễ, tuy nhiên cũng không khó đến nổi cần phải dùng mánh lới đặc biệt mới ra khỏi được, thật ra anh em chúng tôi đều biết anh, chị, Afeluat thường nói cho chúng tôi biết về anh, chị, thế là, vì chúng tôi chẳng mấy khi đoàn tụ đông đủ như thế này, nên tôi yêu cầu Afeluat mời anh, chị, xin anh, chị đừng hiểu lầm, chúng ta hãy kết bạn tâm giao với nhau dưới căn lều này.” Một người anh của Afeluat bắt tay anh José, thành thật giải thích, rốt cục, anh José như được cởi gánh nặng khỏi vai.

“Đừng nói chuyện chính trị!” Bỗng nhiên ông già nói như hét.

“Hôm nay uống trà, ăn thịt, mọi người trong gia đình hôm nay hãy hưởng cái tình thương trong cuộc sống thường ngày trước đây của chúng ta, ngày mai đây mỗi người lại ra đi mỗi người mỗi ngã.” Người anh thứ nói thế, rồi đứng dậy, sải bước ra khỏi lều đón lấy bình trà mà cô em gái mang đến.

Buổi chiều gần như mọi người trong nhà đều làm việc gì đó tuỳ theo gia đình cần, lượm những nhánh củ khô chất thành đống cao, lùa dê vào chuồng, anh em trai và anh José, thay cho một nhà toàn những người già, yếu làm một cái lều cho mẹ, em gái ngủ, lấy giây da cột gầu, xây bức tường đá chắn gió, nâng cao lò bếp, lấy da dê làm gối, ông lão còn vui vẻ kêu người anh trai cả cắt tóc cho ông.

Trong số anh em trong nhà, người anh lớn thứ hai của anh Afeluat là người đã làm và giúp đỡ nhiều nhất, nhưng lối đi, cử chỉ, tướng mạo oai phong, lôi cuốn của một vương tử, nói năng lễ độ, dịu dàng, binh phục cũ, mòn nhưng không thể che mất ánh hào quang từ anh phát ra, nhãn thần tập trung, sắc bén, cơ hồ làm cho người ta chẳng dám nhìn thẳng vào mặt anh, khuôn mặt chín chắn, thuần nhã và đẹp đẽ, mà trong đám dân Sahwari không ai có được.

“Tôi đoán là các anh sắp sửa gây ra một vài biến động trong thị trấn.” Anh José đang bó củi, từ phía ngược gió, nói với anh em của anh Afeluat.

“Ừ, ngày phái bộ của Liên Hiệp Quốc tới, chúng tôi sẽ trở lại đó, chúng tôi đặt hi vọng vào Liên Hiệp Quốc và chúng tôi sẽ cho Liên Hiệp Quốc biết người dân Sahwari sẽ tự mình quyết định phải làm gì cho Đất Nước mình.”

“Các anh coi chừng bị bắt đó!” Tôi nói chen vào.

“Có dân giúp đỡ, thì khó mà bắt được chúng tôi, bao lâu không gặp xui xẻo, thì chuyện bắt chúng tôi không phải dễ.”

“Các anh có vẻ lý tưởng quá, và đầy những ý tưởng lãng mạn trong việc xây dựng Đất Nước, các người sẽ làm gì khi các người có Độc lập? Với một nửa dân của thị trấn là bọn côn đồ, tôi sợ là các anh phải bó tay chịu thua.” Tôi ngồi trên đất ôm lấy con dê nhỏ nói với những người đang còn làm việc.

“Bước đầu tiên là phát triển và giáo dục người dân trong nước.”

“Ai sẽ đứng ra làm cái chuyện phát triển? Ngay cả đem hết dân số của Tây Sahara là bảy chục ngàn người ra mà án ngữ biên giới bao la để ngăn cho quân Ma rốc, thì cũng không xuể, còn nếu phải sa vào cái cảnh phải nhận Algeria làm nước bảo hộ, thì tình hình càng trở nên tồi tệ hơn bây giờ.”

“Chị Tam Mao, chị quá bi quan đấy!”

“Còn các anh thì quá lãng mạn, đánh du kích thì còn được, chứ lập quốc thì chưa đúng thời cơ.”

“Cứ gắng hết sức mình, không tính chuyện thành, bại.” Bọn họ bình tĩnh trả lời.

Công việc nhà kể như xong, bà Yasmin từ xa gọi mọi người vào chiếc lều mới dựng để uống trà nóng, thảm đã được trải sẵn sàng trên nền đất.

“Afeluat, mặt trời lặn rồi.” Bà Yasmin nhìn mặt trời và lo lắng nói với anh Afeluat. Cái vẻ lưu luyến không muốn rời gia đình lan toả trên khuôn mặt mệt mỏi của anh.

“Nhanh lên! Chúng ta phải ra đi ngay, trước khi trời tối hẳn.”

Tôi liền đứng dậy, bà Yasmin thấy chúng tôi sắp đi, ngừng một lúc khá lâu cánh tay đang còn lơ lững cầm bình trà, rồi mới đặt xuống, đoạn hối hả lấy cái đùi thịt dê.

“Hai anh chị không thể nán lại một chút nữa hay sao?” Bà nhẹ nhàng nói, gần như năn nỉ.

“Thưa bà, chúng con sẽ trở lại thăm mà!” Tôi nói.

“Tôi biết là sẽ không có lần sau nào cả. Đây là lần cuối cùng, anh José và chị sẽ rời xa Sahara mãi mãi. ” Bà Yasmin nói nhỏ.

“Trong trường hợp mà có Độc lập, chúng tôi sẽ quay trở lại.”

“Tôi sẽ không có Độc lập đâu, người Ma rốc sắp đến rồi, các con tôi cứ mơ tưởng hão huyền…” Lão nhân lắc đầu tóc bạc, buồn buồn nói. “Đi đi thôi, chưa chi mà mặt trời đã lặn!” Ông thúc các con ông lên đường, ông chậm rãi đưa chân chúng tôi, một tay khoác lên anh José và tay kia lên anh Afelua.

Tôi xoay người cầm cái đùi dê bỏ lên xe, rồi quay lại lặng lẽ ôm bà Yasim và hai con gái nhỏ của bà, và ngẫng đầu đăm đăm nhìn những người anh của anh Afeluat, biết bao nhiêu điều không nói trong cái nhìn vô vọng ấy của các anh ấy và của tôi. Suy cho cùng, chúng tôi là những con người thuộc về hai thế giới khác nhau.

Tôi đang chuẩn bị lên xe thì người anh thứ của anh Alfeluat đột nhiên tiến đến, nắm tay tôi thật ân cần và khẽ nói: ”Chị Tam Mao, tôi xin cảm ơn cô vì cô đã chăm sóc cho Shahida. “

“Shahida?” Tôi ngạc nhiên. “Làm sao mà anh ta biết cô Shahida?

“Shahida là vợ của tôi. Tôi một lần nữa xin giao phó sinh mạng của vợ tôi trong tay chị.”

Đôi mắt anh lúc này chợt đượm nét dịu dàng lẫn nỗi buồn sâu thẳm, chúng tôi nhìn nhau và cùng chia sẽ một bí mật, trong chạng vạng, anh cười buồn. Tôi đứng lặng người chôn chân một chỗ, nhưng anh, anh quay lưng sải bước, anh đi rồi, tôi phóng xe đi. Làn gió mát đầu tiên của buổi tối khiến tôi rùng mình.

“Anh Alfeluat, cô Shahida thực sự là vợ của anh trai thứ hai của anh?” Trên đường về, tôi tĩnh dậy như từ một giấc mơ, hỏi, và anh kín đáo khẽ gật đầu, lòng tôi thở phào khoan khoái và nói thầm trong lòng: “Có vậy chứ, chỉ có một người đàn ông như vậy mới xứng với Shahida, thì ra trong Đất Nước này vẫn còn có một người nam Sahrawi xứng đáng với cô ấy.”

“Cô ấy là người vợ duy nhất của Bassiri, lấy nhau, than ôi, đã bảy năm rồi!” Anh buồn bã gật đầu, trong lòng anh có lẽ cũng đang thầm yêu Shahida!

“Bassiri à?” Anh José đạp phanh cái rít, hỏi mà như hét.

“Bassiri! Anh trai thứ của anh là Bassiri?” Tôi cũng hét lên, toàn thể máu trong người tôi sôi lên sùng sục, thủ lĩnh du kích khi ẩn khi hiện, gieo bao kinh hoàng cho bao nhiêu người, và đầy quyền uy của người Sahrawi trong bao năm nay, lại chính là người vừa gọi tên Shahida, và nắm tay tôi.

Chúng tôi choáng váng đến mức không nói nên lời.

“Cha mẹ của anh hình như không biết cô Shahida.”

“Tôi không thể biết được điều nầy, chị Shahida là người Công giáo, cha tôi sẽ giết Bassiri nếu ông ấy biết. Hơn nữa, anh Bassiri luôn sợ người Ma rốc sẽ cướp chị Shahida để làm con tin tống tiền anh ấy, anh ấy không nói cho người ngoài biết.”

“Du kích bị tấn công ba mặt, vừa phải đánh Ma rốc, vừa phải chống lại Tây Ban Nha, lại phải đề phòng Mauritania ở phía Nam, cuối cùng cũng sẽ bị kiệt quệ và chẳng nên cơm nên cháo gì!“ Anh José gần như khẳng định như thế về kết cục của niềm mơ ước mà quân du kích lâu nay hằng theo đuổi.

Tôi thẫn thờ nhìn sa mạc đang bay ngược, nghe anh José nói vậy, tôi chợt nghĩ đến câu trong truyện “Hồng Lâu Mộng/Giấc mơ lâu đài đỏ:

勘 破*的,遁入空門,

Khám phá đích, tuần nhập không môn,

Biết ra được ư, trốn vào cửa không

痴迷的,枉送了性命,

Si mê đích, uổng tống tính mệnh,

Ngu, mê ư, uổng mất mạng

好一似,食盡鳥投林,

Hảo nhất tự, thực tận điểu đầu lâm,

Thật giống (như) ăn chim hết, vứt vào rừng

落了片白茫茫大地真乾淨!

Mãn liễu phiến bạch mang mang đại địa chân can, tịnh!

Rơi xuống rồi (trên) tấm đất lớn mênh mông, thật khô, ráo!

*Nguyên văn là 看破: khán phá, e không đúng

Tôi lòng ủ dột. Không biết tại sao, tôi đột nhiên cảm thấy anh Bassiri sắp sửa tàn đời, loại trực giác này thường xuyên xuất hiện trong cuộc sống của tôi, và chưa bao giờ sai, trong một thoáng tôi cảm thấy lạnh người và tôi nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ xe, nghĩ đến điềm gỡ mà không biết phải làm gì đây.

“Tam Mao, có chuyện gì vậy?” Anh José đánh thức tôi khỏi cơn mơ mòng.

“Em nằm nghỉ một lát, hôm nay đủ thứ chuyện xảy ra!” Tôi co mình, đắp chăn, cảm thấy buồn nản, không cách gì thư thái được.

Vào ngày phái bộ quan sát và hoà giải của Liên Hiệp Quốc bay đến Sahara, thống đốc Tây Ban Nha liên tục bảo đảm với người Sahrawi rằng họ có thể tự do bày tỏ lập trường của mình, miễn là họ giữ trật tự, Tây Ban Nha sẽ không bao giờ gây khó dễ cho họ, và khẳng định lại quyền tự quyết cho dân Sahrawi vốn đã được thảo luận cách nay hơn hai năm.

“Tôi hi vọng họ không hứa cuội, nếu tôi là chính phủ, thì tôi sẽ không hào phóng đến mức như vậy đâu!” Tôi, lòng thấy lo lắng.

“Chủ nghĩa thực dân đang trên đà sụp đổ, không phải Tây Ban Nha hào phóng gì đâu, Tây Ban Nha cũng sẽ sụp đổ ở đây.” Thời gian gần đây anh José cứ cạu cọ mãi như thế.

Phái bộ của Liên Hiệp Quốc gồm ba thành viên đến Tây Sahara là đại biểu của cả ba quốc gia: Iran, Bờ Biển Ngà và Cuba.

Đoạn đường từ sân bay về thị trấn, từ sáng sớm đã đầy người Sahrawi, họ mặt đối mặt với cảnh sát Tây Ban Nha, lặng lẽ chờ đợi đoàn xe.

Khi Thống đốc tháp tùng phái bộ trên một chiếc ô tô mui trần và bắt đầu vào thị trấn, những người Sahrawi ở đây, khi có người ra hiệu lệnh, thì tất cả đồng thanh hô vang như sấm: “Dân tộc tự quyết, dân tộc tự quyết, xin ban cho chúng tôi quyền dân tộc tự quyết, xin ban cho chúng tôi, xin ban cho chúng tôi…“

Những lá cờ du kích lớn nhỏ được khâu lại bởi hàng ngàn mảnh vải vụn được phất lên, bay như một luồng gió dữ, đàn ông, đàn bà và trẻ em nhảy múa cuồng nhiệt, lòng đầy ắp hy vọng. La hét, khóc lóc, như trời sập đất lở, cùng với những chiếc xe chạy chậm chạp, sa mạc Sahara đang gầm rú, đứng lên đấu tranh, đấu tranh trận này là trận cuối…

“Dân ngu mà cứ nói chuyện đội đá vá trời!” Tôi đứng trên sân thượng của người bạn trong thị trấn thở dài đau đớn, có điều gì gần như niềm tuyệt vọng rơi âm thầm rơi xuống trong tôi, họ đã lấy mạng sống mình mà chiến đấu như một con thiêu thân lao vào ngọn lửa, nhưng vẫn chưa thấy được cái ngày trong sáng mà họ hằng ước mơ.

Chính phủ Tây Ban Nha biết rõ tình hình rõ hơn người dân Sahrawi vạn lần, cứ để cho họ tự mình bám lấy Liên Hiệp Quốc, không ngăn cản cũng không phản đối, rồi rốt cuộc, Tây Ban Nha sắp tháo chạy, thì ai sẽ đến đây thay thế? Kẻ ấy không phải là Bassiri, anh ta không bao giờ sẽ được làm lãnh đạo của một quốc gia nhược tiểu chỉ có 70.000 người này.

Phái bộ của Liên Hiệp Quốc vội vàng rời Tây Sahara và hướng về Ma rốc. Người Sahrawi và người Tây Ban Nha trong thị trấn lại thân thiết đến lạ lùng, thậm chí còn thân thiết hơn xưa. Tây Ban Nha, nghe Ma rốc hô hào chiến đấu, liền thành khẩn hứa hẹn với cho người Sahrawi là Tây Ban Nha sẽ nhanh chóng thực hiện quyền quốc gia tự quyết cho họ, hai bên khách chủ, dưới sự đe dọa của tiếng trống chiến tranh dồn dập từ Ma rốc dội đến, đã hợp tác chặt chẽ như anh em. Mấu chốt nằm ở Ma rốc, chứ không phải ở Tây Ban Nha. Ngược lại, đối với cô Shahida, ngày nào u ám ngày ấy, cô không phải là người ngây thơ, cô nhìn rõ tình hình hơn ai hết, trong khi đó người Sahwari cứ lạc quan tếu.

“Ma rốc ư? Nếu Liên Hiệp Quốc nói rằng phải trao Tây Sahara cho dân tộc chúng tôi tự quyết lấy thì Ma rốc không cần phải sợ hãi. Ma rốc, họ tự cho họ là ai? Còn nếu không, Tây Ban Nha sẽ phải đưa Ma rốc ra tòa án La Haye!”

Vào ngày 17 tháng 10, sau không biết bao nhiêu ngày tranh tụng về vấn đề Tây Sahara, và bị thúc dục rất nhiều lần, cuối cùng Tòa án Quốc tế ở La Haye mới đưa ra phán quyết đã được chờ đợi từ lâu.

“Chúng ta đã chiến thắng! Chúng ta đã chiến thắng! Hy vọng đã vươn lên, hoà bình đã đến cho dân tộc Sahrawi !“ Người Sahrawi trong thị trấn khi nghe đài phát thanh như thế, họ lấy hết mọi thứ có thể đập được đưa ra đập, và nhảy và la hét như điên, người Tây Ban Nha và Sahrawi, khi gặp nhau, bất kể họ có quen biết hay không, cứ ôm nhau. Họ cùng cười, cùng nhảy múa và ăn mừng như điên trên khắp đường phố.
“Em có thấy không: nếu Tây Ban Nha giải quyết được chuyện sống chung hòa bình với nhau trong tương lai, chúng ta sẽ ở lại đây?“ Anh José ôm tôi cười sung sướng, nhưng tôi vẫn lo lắng, không hiểu sao tôi cứ cảm thấy thảm họa đằng nào cũng sắp xảy ra.

“Mọi chuyện sẽ không đơn giản như vậy, và đây không phải như con nít chơi trò chơi gia đình.” Tôi vẫn không chịu tin.

Vào ngay buổi tối hôm Toà án La Haye đưa ra phán quyết, xướng ngôn viên của Đài phát thanh Sahara đột nhiên đau đớn đưa tin: “Vua Hassan của Ma rốc kêu gọi quân tình nguyện tập họp lại, và bắt đầu từ ngày mai, họ sẽ tiến quân một cách hòa bình về phía Tây Sahara.”

Anh José vỗ bàn và bật dậy.

“Quyết chiến!” Anh hét lên, và tôi, tôi vùi mặt vào lòng mình.

Điều kinh hoàng là quỷ vương Hassan chỉ mong kiếm được 300.000 người tình nguyện, thế mà ngày hôm sau đã có 2 triệu người ghi danh xin đi.

Bản tin truyền hình buổi tối ở Tây Sahara bắt đầu chiếu phóng sự về cuộc tiến quân trong hòa bình về biên giới ấy: “Ngày 23 tháng Mười, phải chiếm cho được El Aiún!” Bọn Ma rốc oà ra như ong vò vẽ vỡ tổ, họ ồn ào theo nhau, bước những bước đầu tiên, vừa đi vừa nhảy múa, từ từ tiến đến gần biên giới, trông thật dễ sợ, và từng bước, từng bước họ dẫm vào trái tim chúng tôi, những người bên này biên giới đang xem truyền hình cảnh họ tiến ra biên giới.

“Nhảy, nhảy, nhảy cứ nhảy cho chết cha chúng mày đi, cái lũ khốn nạn!” Tôi hét, tôi chửi cái đám đàn ông, đàn bà đang nhảy, múa, vỗ tay trên TV.

“Quyết chiến!” Mọi anh hùng của Quân đoàn Sa mạc điên cuồng lái xe về phía biên giới, và biên giới ấy chỉ cách thị trấn El Aiún 40 km.

Vào ngày 19 tháng 10, người Ma rốc tình nguyện ra biên giới tăng chứ không có giảm.

Ngày 20 tháng 10, mũi tên trong bản đồ trên báo chí chỉ bước tiến của quân Ma rốc dài thêm.

Ngày 21 tháng 10, chính phủ Tây Ban Nha bất ngờ dùng loa phát thanh trên đường phố, kêu gọi khẩn cấp di tản phụ nữ và trẻ em Tây Ban Nha.

“Tam Mao, phải chuồn thôi, nhanh chân lên, muộn quá rồi.” Những người bạn từ thị trấn, đồ đoàn bị mất hết, vội vàng đến chào tạm biệt tôi rồi chạy ra phi trường.

“Tam Mao, nhanh lên, nhanh lên.” Mọi người họ nhìn thấy tôi, ghé lại hối hả gõ cửa, rồi nhảy lên xe, phóng đi.

Cảnh sát Tây Ban Nha trên đường phố đột nhiên không thấy đâu nữa, cả thị trấn trống không, ngoại trừ đám đông bên ngoài cổng hãng hàng không.

Tại thời điểm nguy cấp này, anh José đã ngày đêm túc trực trên bờ kè nổi của Công ty Khai thác phốt phát để giúp di tản vũ khí, đạn dược và lính của quân đoàn, nên không thể về nhà để xoay xở cho tôi.

Vào ngày 22 tháng 12, một lá cờ Ma rốc đã bất ngờ được kéo lên trên sân thượng nhà của anh Hamdi/Hamđi, và sau đó những lá cờ Ma rốc khác bắt đầu tung bay trong một vài nơi khác trong thị trấn.

“Hamdi, anh trở cờ nhanh quá vậy?” Tôi nhìn anh ta, và tôi gần như bật khóc.

“Tôi có vợ con. Cô muốn gì ở tôi? Bộ cô muốn tôi chết hay sao?”

Tôi ngạc nhiên sợ hãi khi thấy đôi mắt của con nhỏ Gueiga sưng lên như hạt trái hồ đào, tôi hỏi: “Gueiga, em…”

“Chồng tui, anh Abeidy đã bỏ đi theo du kích mất rồi.”

Tôi nói: “Người can đảm không thể sống buông xuôi, còn không thì phải sống lưu vong.”

Anh José tiếp lời: “Nhớ đóng cửa cho kỹ, và phải hỏi cho rõ ràng là ai thì mới mở cửa. Người Ma rốc sẽ không đến vào ngày mai, họ còn lâu mới đến đây được! Vé máy bay của em, anh đã nhờ đặt giùm, anh sẽ không bỏ em một mình, anh sẽ quay lại khi thuận tiện, nếu tình huống trở nên tồi tệ, em cứ xách vali nhỏ mà chạy ra sân bay, anh sẽ kiếm cách gặp lại em, can đảm lên.” Tôi gật gật đầu, anh José mở to đôi mắt có những tia máu đỏ, và hơn trăm dặm trở lại, công ty phốt phát tổng động viên toàn thể nhân viên, phối hợp với quân đội, chuyên chở những thứ đáng giá nhất bốc lên tàu hàng, không một nhân viên nào bị khiển trách bỏ nhiệm sở hay phàn nàn vào lúc này. Tất cả các tàu dân sự Tây Ba Nha ở quần đảo Canari đã đến đợi bên ngoài giàn nổi.

Đêm đó, khi tôi đang ở nhà một mình thì có tiếng gõ cửa nhè nhẹ.

“Ai đó?” Tôi bật đèn và lớn tiếng hỏi.

“Shahida đây, chị mở cửa mau!”

Tôi bước vội ra mở cửa, Shahida lao vụt vào, và theo sau là một người đàn ông che mặt cũng vụt vào, tôi lập tức đóng cửa và khóa chặt cửa lại.

Khi bước được vào nhà, Shahida run lên vì quá sợ hãi, và chéo tay ôm vai mình, tôi nhìn đăm vào người lạ kia đang gục trên chiếu và thở hổn hển, ông ta từ từ cởi khăn trùm đầu ra, rồi gật đầu mỉm cười với tôi… Bassiri!

“Các người thật liều lĩnh, cái anh chàng Hamdi hàng xóm đã theo người Ma rốc rồi.” Tôi bật dậy và tắt đèn rồi đẩy họ vào phòng ngủ không cửa sổ. “Sân thượng nhà này là nơi người ta hay tụ tập, trên nóc có một lỗ thủng, họ có thể nhìn thấy chúng ta ở phòng ngoài này.” Tôi đóng chặt cửa phòng ngủ, rồi bật ngọn đèn nhỏ cạnh giường lên.

“Có gì cho tôi ăn với!” anh Bassiri nthở dài, cô Shahida chuẩn bị đi vào bếp, tôi nói:

“Để tôi đi kiếm xem có gì ăn không, cô cứ ở trong buồng.” Tôi lặng lẽ ấn cô ta ngồi xuống.

Bassiri rất đói, nhưng anh chỉ ăn được mấy miếng, và không thể ăn thêm được nữa, rồi anh thở dài, một hình nhân có khuôn mặt hốc hác, tiều tuỵ của một người chí lớn không thành.

“Anh trở lại đây để làm gì? Vào lúc này?”

“Thăm vợ tôi!” anh Bassiri nhìn cô Shahida và lại thở dài.

“Biết trước rằng ngày tiến quân hòa bình của người Ma rốc sẽ bắt đầu diễn ra trong một ngày rất gần, tôi liền vội vã ngày đêm từ Angeria trở về nước, tôi đã đi suốt nhiêu bao ngày nay …”

“Anh đi một mình?”

Anh ta gật đầu.

“Còn những người du kích khác đâu?”

“Họ chạy ra biên giới để chặn người Ma rốc.”

“Tất cả có bao nhiêu du kích?»

“Chỉ có hai nghìn người. “

“Có bao nhiêu người của anh đang ở trong thị trấn này?”

“Tôi e rằng bây giờ không có một mống nào mà không co chân chạy có cờ vì sợ hãi, than ôi, lòng người! Tôi phải rời khỏi đây trước giờ thiết quân luật.” anh Bassiri nói rồi đứng bật dậy.

“Anh Afeluat đâu?”

“Lát nữa chúng tôi sẽ gặp hắn.”

“Gặp ở đâu?”

“Tại nhà một người bạn.” Anh thở dài, cô Shahida lập tức hỏi:

“Bạn anh có đáng tin không vậy? Vào giờ này, mà anh vẫn tin tưởng vào bạn bè của anh được à?”

Anh Bassiri gật đầu.

Tôi thầm cân nhắc một lúc, rồi kéo ngăn kéo ra, lấy ra một chiếc chìa khóa: “Anh Bassiri, đây là một căn nhà trống do một người bạn tặng cho tôi, cạnh quán rượu, có mái nhà hình bán nguyệt và sơn màu vàng tươi, không lầm vào đâu được. Nếu không có nơi nào để cho anh ở, thì anh hãy đến đó mà trốn, đây là một ngôi nhà của người Tây Ban Nha, và sẽ không ai nghi ngờ đâu. “

“Tôi không muốn cho cô liên luỵ vào, tôi không thể đến đó ở được.”

Anh ta từ chối lấy chìa khóa, nhưng Shahida cứ cầu khẩn anh ta mãi: “Nếu anh nhận lấy chìa khóa, thì dầu gì anh cũng có một nơi mà ẩn thân, trong thị trấn đâu đâu cũng có gián điệp của Ma rốc. Anh cứ nghe theo lời cô Tam Mao, cô ấy tính thế, không sai đâu. “

“Tôi còn có một nơi khác để đến.“

“Này cô Tam Mao, Shahida vẫn còn một số tiền, và nhờ đó sau này sẽ tự xoay xở được. Bây giờ xin cô đưa cô ấy đi khỏi đây, rồi hẵng tính. Các dì phước sẽ đưa đứa con đi. Mẹ và con đi hai đường, thì sẽ không thu hút sự chú ý. Bọn Ma rốc biết rằng tôi vốn có vợ, con ở trong thị trấn này.“

“Con?” Tôi sững sờ nhìn cô Shahida.

“Tôi sẽ giải thích cho cô sau.” Và cô Shahida hối thúc chồng mình ra đi, run lẩy bẩy đến nổi nói không ra lời.

Anh Bassini ôm mặt cô Shahida, lặng thinh nhìn vài giây, thở dài thật dài, nhẹ nhàng vuốt tóc cô, đoạn đột ngột xoay người và sải bước đi ra .

Cô Shahida và tôi nằm im thin thít, một đêm mất ngủ đã qua, trời đã rạng sáng và cô đòi đi làm.

“Hôm nay con của chúng tôi sẽ lên đường đi Tây Ban Nha với các dì phước, và tôi phải đi gặp cháu.”

“Chiều, tôi sẽ tìm cô, khi có tin là mua được vé, tôi và cô sẽ rời đây ngay.”

Cô gật đầu như mất hồn, rồi chậm chậm bước ra khỏi nhà.

“Chờ một chút, tôi lái xe đưa cô đi.” Nãy giờ tôi quên khuấy là mình vẫn còn có xe đậu ở nhà.

Sau một ngày hôn hôn mê mê, vào khoảng 5 giờ chiều tôi lái xe đến bệnh viện, lên xe thì thấy xăng sắp hết nên phải đổ xăng trước, sau một đêm mất ngủ, tôi cảm thấy đầu choáng váng, tai lùng bùng, mồ hôi chảy, người yếu ớt như thể sắp ngã bệnh, mơ mơ hồ hồ lái xe, thế là tông vào cái cổng chắn ở ngoài thị trấn, sợ toát mồ hôi lạnh, tôi thắng kít xe lại.

“Tại sao, lại có chốt chặn ở đây?” Tôi hỏi một người lính Tây Ban Nha đang canh gác.

“Có chuyện không lành đã xảy ra, người ta đang chôn cất người.”

“Tại sao chôn người mà lại phải kiểm soát giao thông!” Tôi mệt mỏi muốn chết, hỏi.

“Người chết đó là Bassiri, thủ lãnh du kích!”

“Anh… anh nói láo” Tôi hét lên.

“Thật mà, tôi nói dối với cô mà làm gì?”

“Nhầm, chắc chắn là nhầm.” Tôi lại hét.

“Làm sao có thể nhầm lẫn được? Mặt của tên chỉ huy, em trai hắn nhận ra mà, sau khi nhận mặt anh mình, anh ta bị nhốt lại, không biết đã được thả hay chưa?”

“Làm sao có thể như thế được? Làm sao có thể như thế được?” Tôi gần như cầu xin người lính trẻ phủ nhận sự thực anh ta vừa nói.

“Người của ông ta đã chiến đấu và ông ta đã bị giết hết, than ôi, máu thịt tùm lum, mặt mũi nát bét!”

Tôi phát run lên, đang tính lui xe, thì đụng sạp hàng chắn lối không cách gì lùi được.

“Tôi bị xây xẩm, anh làm ơn de xe giùm tôi.”

Tôi khẽ khàng bước xuống xe và kêu anh lính giúp tôi, anh ta nhìn tôi lạ lẫm rồi mới thuận de giùm xe. “Chị phải cẩn thận! Đi rồi nhớ quay về ngay! “

Tôi run rẫy cả người và người cứ run mãi cho đến khi tới bệnh viện, và thất thểu bước ra khỏi xe, khi thấy người ông lão gác cổng, tôi hỏi mà không thành tiếng.

“Ông có biết cô Shahida giờ đang ở đâu không?”

“Đi mất rồi!” Ông ta im lặng nhìn tôi.

“Đi mất rồi, mà cô ta đi nơi nào, ông có thấy là cô ta cố tìm tôi không?” Tôi kinh hãi lắp bắp hỏi ông ta.

“Tôi không biết.”

“Còn mấy bà phước thì sao? “

“Mấy dì dẫn theo một vài đứa trẻ và ra đi từ sáng sớm.”

“Cô Shahida có còn ở trong ký túc xá không?”

“Không, tôi đã nói là không. Hơn ba giờ chiều, cô ấy mặt mày trắng bệch lẵng lặng ra đi.”

“Còn anh Afeluat đâu?”

“Làm sao mà tôi biết được.” Người gác cổng sốt ruột trả lời, tôi không còn cách nào khác là phải rời khỏi nơi này, tôi lái xe vòng vòng quanh thị trấn, tới một trạm xăng khác và đổ xăng như một kẻ mộng du. “Thưa bà, bà phải đi ngay! Vài ngày nữa người Ma rốc sẽ tới đây.”

Tôi chẳng thèm để ý tới những người ở cây xăng và cứ chạy xe vòng vòng khu vực gần đồn cảnh sát hỏi thăm người ta.

“Ông/bà có thấy ông Afeluat ở đâu không? Ông/ bà có thấy ông Afeluat không?”

Mọi người đều buồn bã lắc đầu.

Cảnh sát Sahrawi đã bị giải tán vài ngày trước đây.

Tôi lái xe một lần nữa đến công viên nơi người Sahrawi hay tụ tập, và trong một cửa hàng cửa mở một cánh, có một người đàn ông trọng tuổi mà tôi trước đây tôi thường hay mua hàng.

“Xin lỗi ông, ông có gặp cô Shahida ở đâu không? Và anh Afeluat nữa, ông có gặp không?“

Ông già nhẹ nhàng đẩy tôi ra vì sợ hãi, và thở dài.

“Xin vui lòng cho tôi biết….”

“Dẹp cái chuyện này đi! Mắc mớ gì đến cô mà cô cứ hỏi.”

“Ông mà nói, thì tôi sẽ rời đây mà đi ngay lập tức, không làm phiền ông nữa, tôi hứa với ông.” Tôi van xin ông ta.

“Tối nay, mọi người sẽ tụ tập để xét xử Shahida.” Ông ta len lén nhìn quanh và nói.

“Tại sao lại xét xử? Tại sao?” Tôi đâm ra sợ hãi và chẳng biết phải làm gì.

“Cô ta đã bán đứng thủ lãnh Bassiri, cô ta báo với người Ma rốc là thủ lãnh Bassiri đã trở lại, bọn gián điệp Ma rốc mai phục ở trong một con hẻm và họ đã tóm được thủ lãnh Bassiri một cách ngon lành.”

“Không thể như thế được, ai đã nhốt cô ta, tôi sẽ đi khai với họ, cô Shahida đã ở nhà tôi đêm hôm qua, cô ta không thể làm chuyện đó được, và nhất là cô ta chính là vợ của thủ lãnh Basssiri….”

Ông già lại nhẹ nhàng đẩy tôi ra khỏi quán, tôi trở lại xe, gục mặt xuống vô lăng và mệt tê cứng người.

Tôi trở lại cửa nhà, con nhỏ Gueiga từ trong đám người đang tụ tập hóng chuyện lập tức chạy về phía tôi. “Vào đây, tui sẽ nói cho cô nghe chuyện này.” Con nhỏ đẩy tôi vào nhà.

“Ông Bassiri đã chết rồi, em phải nói rõ cho tôi vụ này. “ Tôi vừa đi vòng qua vòng lại trong nhà vừa nói.

“Không phải chỉ có thế, bọn họ sẽ còn giết cả cô Shahida tối nay.”

“Vậy hả, mà sẽ giết ở đâu?”

“Tại là lò sát sinh người ta giết thịt lạc đà.” Con nhỏ Gueiga hoảng sợ nói.

“Bọn họ là những ai?”

“Gã Ajyeiba và đồng bọn.”

“Chúng nó cố tình vu oan giá hoạ cho cô ấy. Tối qua cô Shahida đã ở nhà tôi mà.” Tôi lại nói như hét.

Con nhỏ Gueiga ngồi lặng thinh, vẻ mặt hoảng hốt như một con đần .

“Gueiga, em xoa bóp cho tôi một chút! Tôi đau nhừ cả người. Trời ơi là Trời! Trời ơi là Trời!” Tôi nằm dài úp mặt trên đất thở dài thườn thượt.

Con nhỏ Gueiga cúi xuống bên cạnh tôi và xoa bóp cho tôi.

“Bọn chúng hô hoán: mọi người hãy đến mà xem.” Con nhỏ Gueiga nói.

“Buổi tối mà vào lúc mấy giờ?”

“Tám giờ rưỡi, chúng hô hào mọi người hãy đến mà xem, và nói rằng nếu có ai không muốn đi thì nói cho kẻ đó biết rằng vụ xử tội tối nay không đẹp không ăn tiền.”

“Cái thằng Ajyeiba theo tụi Ma rốc, em không biết à?”

“Cái thằng không khốn kiếp, cái thằng du côn!” Con nhỏ Gueiga nói.

Tôi nhắm mắt lại, đầu óc quay cuồng như đèn cù, ai có thể cứu được cô Shahida, các bà dì phước ra đi mất rồi, quân đội Tây Ban Nha thì bất cần, anh Afeluat cũng đã bỏ đi, tôi thì tôi bó tay, anh José sẽ không trở về nhà vào lúc này, chẳng có ai để mà bàn bạc, tôi hoàn toàn cô đơn, tuyệt vọng.

“Mấy giờ rồi? Gueiga, em đi lấy đồng hồ cho tôi xem.”

Con nhỏ Gueiga đưa đồng hồ cho tôi, tôi nhìn đồng hồ, đã bảy giờ mười.

“Đoàn người Ma rốc hành quân qua đây giờ hôm nay đã đi tới đâu rồi? Có tin tức gì không em?” Tôi hỏi.

“Em không biết, nghe nói Quân đoàn sa mạc Tây Ban Nha ở biên giới đã gỡ dọn mìn, cho bọn Ma rốc vượt biên giới.”

“Một số lính của Quân đoàn Sa mạc không chịu rút lui, và cùng du kích rút vào sa mạc.” Con nhỏ Gueiga lại nói tiếp.

“Làm sao mà em biết?”

“ Ba Hamdi nói.”

“Này Gueiga, chúng ta phải nghĩ cách để cứu cô Shahida.»

“Em chịu thua, em đâu biết cách nào. “

“Tối nay tôi sẽ đi đến đó, em có đi không? Tôi sẽ làm chứng rằng cô ấy đã ở nhà chúng tôi đêm qua…”

“Cô Tam Mao, không được đâu, không được đâu! Đừng có nói, kẻo lại chuốc hoạ vào thân.” Con nhỏ Gueiga vội vàng ngăn tôi, nó gần như muốn khóc.

Tôi nhắm mắt, thân thể rã rời, đợi đến 8 giờ 30 tôi sẽ đến ngay, gì thì gì tôi cũng phải gặp cô Shahida, nếu có chuyện xét xử đàng hoàng, thì người ta phải để cho tôi tôi tranh luận với người ta, tôi chỉ sợ rằng đây là một dịp cho bọn du côn trừng phạt cô ta một cách tàn khốc chỉ vì tư thù. Như thế thì xét xử cái quái gì? Tôi chắc như đinh đóng cột là bọn nó cố tình muốn giết cô Shahida, người đàn bà mà anh chàng Ajyeiba bấy lâu nay ngày nào cũng lẻo đẽo đi theo mà chẳng được xơ múi gì. Trong thời thế loạn lạc, những sự việc vô nhân đạo như thế có thể xảy ra.

Khoảng tám giờ, tôi nghe tiếng người như thuỷ triều xô đến bên ngoài, mặt người nào người nấy đều câm lặng, trên mặt mũi trơ trơ, có người đi bộ, có người lái xe, tất cả đều đi tới lò sát sinh nằm bên thung lũng cát xa xa, bên ngoài thị trấn.

Tôi lên xe chạy chầm chậm giữa đám người Sahrawi, hết đường, thì tiếp đến cát, tôi bỏ xe lại, xuống xe, đi theo mọi người.

Lò sát sinh vào ngày thường là nơi tôi không muốn đến, ở đấy, tiếng than khóc của những con lạc đà bị giết vẫn vang vọng qua chiều dài năm tháng, thịt thối róc chưa hết và xương của những con lạc đà đã bị giết chết bị ném xuống một thung lũng cát cạn lòng. Nơi này gió luôn khắc nghiệt, ngay cả ban ngày cũng khiến người ta cảm thấy u ám, buồn bã, bây giờ hoàng hôn sắp hết, mặt trời lặn chỉ còn kéo theo một cái đuôi nhợt nhạt chiếu rọi yếu ớt phía chân trời.

Lò sát sinh là một căn phòng dài, hình chữ nhật, tường xi măng, trong bóng hoàng hôn, nó thực giống như một chiếc quan tài lớn được một bàn tay khổng lồ nào đó từ trên mấy tầng mây nhẹ nhàng đặt trên cát, nằm nghiêng nghiêng trên mặt đất toàn cát, nó làm cho người ta kinh hãi không dám nhìn thẳng vào nó.

Đã có rất nhiều người tụ tập, xem ra có vẻ náo nhiệt, giống như một bầy cừu bị lạc, xúm lại và xô đẩy nhau, đám người cũng như thế, nhưng lại im phăng phắc.

Trước 8 giờ 30, một chiếc xe jeep cỡ vừa hối hả, dương dương tự đắc phóng về phía đám đông, mọi người vội vàng lùi lại để nhường đường. Trên chiếc ghế cao cao, bên cạnh ghế lái, cô Shahida ngồi im không nhúc nhích, cả người tái nhợt giống y như một tử thi.

Tôi đẩy người ta ra và đưa tay ra định gọi cô Shahida, nhưng, mẹ cha chúng nó, tôi không thể lại gần cô, đám đông như những con sóng dữ, dồn dập xô tôi, đẩy tôi, bao nhiêu người giẫm lên chân tôi, lúc đẩy tôi về phía trước, lúc ép tôi lùi lại sau.

Tôi nhìn xung quanh trùng trùng người, nhưng không thấy một người nào mà tôi quen biết. Tôi nhón chân nhảy lên để xem thì thấy cô Shahida bị cái thằng Ajyeiba rị lấy tóc và kéo từ trên xe xuống. Đám đông lại ồn ào náo động, và mọi người đang tranh giành chỗ, ép nhau, đẩy về phía trước .

Cô Shahida nhắm mắt, không cử động, tôi nghĩ cô ấy rất đau lòng khi nghe tin anh Bassiri đã chết, ruột đau chín khúc, lúc này, có lẽ đang chỉ cầu xin cho mình được chết.

Các bà phước đã mang đứa con của hai vợ chồng ra đi một cách an toàn, và cô chẳng còn lưu luyến gì cái Đất Nước này nữa.

Toà án nhân dân (5) sẽ diễn ra trong ấy, trong ấy người ta sẽ tranh luận, trong ấy người ta nhắc tới thủ lãnh Bassiri của họ, trong ấy người ta nêu lên chính nghĩa, thế mà ngay khi cô Shahida vừa bị kéo xuống, cô liền bị một số người xé toạc mảng áo phía trước, và bộ ngực trần của cô phơi ra thật đáng thương trước không biết bao nhiêu là người.

Cô ấy ngẩng đầu lên, nhắm mắt lại, nghiến răng, không nhúc nhích. Lúc này, cái gã Ajyeiba hét lên bằng tiếng Ả rập Hassaniya, thế là đám đông nhốn nháo lên. Tôi nghe mà chẳng hiểu gì, tôi chụp lấy người đàn ông bên cạnh tôi và hỏi cô ta bị án tử hình à, ông ta lắc đầu từ chối dịch, tôi bèn chen người hỏi một cô gái, cô ta nói mà không ra tiếng: “Họ sẽ cưỡng hiếp cô ấy, hiếp xong rồi mới giết, và anh chàng Ajyeiba hỏi ai muốn hiếp cô ấy không, vì cô ấy theo Công giáo, ai mà hiếp cô ấy, thì không phải mang tội gì cả.”

“Vậy hả! Trời Đất ơi! Hãy cho tôi đi qua, tôi phải đi tới đó.” Tôi đẩy đám người trước mặt, trong tuyệt vọng, chỉ vài bước thôi mà dài như ngàn dặm, xem ra tôi không bao giờ có thể chen qua được.

Tôi bèn nhảy dựng lên để nhìn cho được cô Shahida, cái thằng Ajyeiba và mấy đứa khác vẫn còn đang xé váy của cô ấy. Cô Shahida toan chạy, nhưng một vài người đã chồm tới, cố sức tụt váy cô ra, đánh cho thân thể gần như trần truồng của cô lăn quay trên bãi cát, vài người nhảy lại túm lấy tay và chân cô đè riết xuống, rồi giạng tay, banh chân cô ra, lúc này tiếng hét của cô Shahida vang lên như tiếng thét của một con thú hoang: “Á…! Đừng…! Đừng…! Á…! Á …!” , tôi phải hét lên, nhưng nghẹn không hét được nữa rồi, tôi khóc mà không dám khóc thành tiếng, nhìn, nhưng tôi nhìn không nổi, và tôi cũng không muốn nhìn nữa, nhưng tôi vẫn cố gắng hướng cái nhìn chết sững của mình về phía có cô Shahida đang bị làm nhục… “Đừng…!”, tôi nghe tiếng hét của chính mình, hét đến khản cả cổ… Lúc này, tôi cảm thấy ở sau lưng tôi có một người đang lao như một con báo, lao qua đám đông, vạch từng người từng người, và như một tia chớp, lao vào chỗ đám đầu trâu mặt ngựa đang bâu quanh cô Shahida, kéo cái thằng đang đang nằm đè trên người cô, nắm tóc của cô và kéo lê cô về hướng khu đất cao và vắng vẻ nằm phía sau lò sát sinh, sau lưng anh. Người đàn ông đó, chính là anh Afeluat. Anh tay cầm một khẩu súng lục, miệng sủi bọt như một thằng điên, anh chĩa súng vào đám đông, những kẻ đang định lao vào giật súng, bảy tám tên du côn bèn chìa dao ra, cả đám đông đồng loạt kêu lên sợ hãi, rồi bắt đầu chạy túa ra ngoài. Tôi cố hết sức để tiến sát lại phía anh Alfeluat nhưng tôi bị đẩy ra, tôi loạng choạng lùi lại. Tôi mở mắt ra và thấy người người đang bủa vòng vây quanh anh Afeluat. Anh Afeluat một tay kéo Shahida trên mặt đất, với đôi mắt dè chừng của loài báo, phóng ra những tia sáng dữ tợn, một tay hưa súng lục về đám người đang chen lấn tràn về phía anh, ngay vào lúc ấy có một gã nãy giờ cứ đứng loay hoay sau anh Afeluat, nhảy lên chồm vào người anh, anh nã một phát súng, những gã đàn ông khác hùa vào chụp lấy anh. ”Giết chị đi, giết chị đi, Afeluat ơi…! Giết đi… Ôi…!” Cô Shahida điên cuồng hét rồi lại hét. Tôi sợ đến mức nghẹn cả họng, rồi nghe có thêm mấy tiếng súng, người ta la hét vì sợ hãi, xô đẩy, chen lấn, tôi ngã xuống, bị người ta đạp lên, một lúc sau, xung quanh bỗng trở nên trống rỗng, vắng lặng, tôi xoay người, nhỏm dậy ngồi dậy, và thấy gã Ajyeiba và mấy đứa khác đang vội vàng đỡ ai đó lên xe. Hai xác chết trên mặt đất. Anh Afeluat nằm chết trên mặt đất mà mắt chưa nhắm được, cô Shahida nằm sấp. Anh Afeluat nằm chết ở tư thế như thể anh ta đang bò về phía Shahida, và muốn lấy tấm thân mình để che chở cho cô.

Tôi ngồi xổm trên nền đất cát xa xa, run rẩy, không ngừng run rẩy, trời tối đến mức phải nhìn một lúc lâu mới thấy được hai thi thể. Bỗng nhiên không còn nghe tiếng gió thổi, tôi dần dần không còn thấy gì nữa, tôi chỉ nghe tiếng nghé ọ ai oán mỗi lúc mỗi lớn của lạc đà trong lò sát sinh, bầu trời cũng dần dần tràn ngập tiếng vọng về mênh mông của những con lạc đà khóc rưng rức, và những tiếng khóc ấy, bây giờ, như tiếng sấm, phủ chụp lấy tôi.
.
Tam Mao 三毛
(1943 – 1991, Đài Loan)
___________________________
Chú Thích:
(1)

Tây Sahara, nguồn wikipedia

Tây Sahara (tiếng Ả Rập: الصحراء الغربية aṣ-Ṣaḥrā ‘al-Gharbiyyah; tiếng Berber: Taneẓroft Tutrimt; tiếng Tây Ban Nha: Sáhara Occidental) là một lãnh thổ còn đang trong vòng tranh chấp trên bờ biển phía tây bắc vùng Maghreb, Tây Bắc Phi Châu. Hiện nay khoảng 20% ​​lãnh thổ do Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Sahrawi (SADR) kiểm soát, trong khi 80% lãnh thổ còn lại bị nước láng giềng Ma rốc chiếm đóng và quản trị. Diện tích 266.000 km vuông. Đây là một trong những lãnh thổ thưa dân nhất trên thế giới, chủ yếu bao gồm các sa mạc bằng phẳng. Dân số ước tính chỉ hơn 500.000 người, trong đó gần 40% sống ở Laayoune, thành phố lớn nhất ở Tây Sahara.

Bị Tây Ban Nha chiếm đóng cho đến năm 1975. Trước đó, kể từ năm 1963, theo yêu cầu của Ma rốc, Tây Sahara nằm trong danh sách các lãnh thổ không tự quản của Liên Hiệp Quốc. Năm 1965, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết đầu tiên về Tây Sahara, yêu cầu Tây Ban Nha phi thực dân hóa lãnh thổ. Một năm sau, một nghị quyết mới được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua, yêu cầu Tây Ban Nha tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về quyền dân tộc tự quyết. Năm 1975, Tây Ban Nha từ bỏ quyền kiểm soát hành chính lãnh thổ cho Ma rốc (quốc gia này đã chính thức tuyên bố chủ quyền lãnh thổ trên Tây Sahara từ năm 1957) và Mauritania. Một cuộc chiến đã nổ ra giữa các quốc gia này và phong trào quốc gia ở Sahrawi là Mặt trận Polisario. Mặt trận này tuyên bố thành lập SADR với một chính phủ lưu vong ở Tindouf, Algeria. Mauritania đã rút lại yêu sách của mình vào năm 1979, và cuối cùng Ma rốc đã kiểm soát trên thực tế hầu hết lãnh thổ, bao gồm tất cả các thành phố lớn và hầu hết các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Liên Hiệp Quốc coi Mặt trận Polisario là đại diện hợp pháp của người Sahrawi, và vẫn duy trì quyền tự quyết của người Sahrawi.

Kể từ khi có một thỏa thuận ngừng bắn do Liên Hiệp Quốc bảo trợ vào năm 1991, chính phủ Ma rốc quản trị b 2/3 lãnh thổ, bao gồm phần lớn những vùng đất dọc đường bờ biển Đại Tây Dương, với sự hỗ trợ ngầm từ Pháp và Hoa Kỳ. Phần còn lại của lãnh thổ do SADR quản trị, với sự ủng hộ của Algeria, gồm bờ biển bên ngoài Bức tường Tây Sahara của Ma rốc, vùng Cực Nam, và bán đảo Ras Nouadhibou. Trên bình diện quốc tế, các quốc gia, như Nga, lập trường thường không rõ ràng và có thái độ trung lập đối với các tuyên bố của mỗi bên, đồng thời thúc ép cả hai bên đồng ý về một giải pháp hòa bình.

Mãi đến năm 2020, chưa có quốc gia thành viên nào khác của Liên Hiệp Quốc chính thức công nhận chủ quyền của Ma-rốc đối với các phần của Tây Sahara. Năm 2020, Hoa Kỳ công nhận chủ quyền của Ma rốc đối với Tây Sahara để đổi lấy việc Ma rốc bình thường hóa quan hệ với Israel. (Wikipedia)

(2) Về tác giả Tam Mao: 三毛, tên thật là Trần Mậu Bình陳懋平, tên tiếng Anh là Echo Chen Ping, hay Echo Chan (Echo là một nữ thần Hy Lạp); hồi còn trẻ cô tránh viết chữ Mậu:懋: (Mao đọc theo tiếng Quan thoại) vì cô không bao giờ viết đúng được.

Cô là nhà văn và dịch giả Đài Loan. Các tác phẩm của cô rất đa dạng từ tự truyện, du ký, cho đến các bản dịch truyện tranh tiếng Tây Ban Nha. Bút danh của cô được lấy từ nhân vật chính Tam Mao trong các truyện tranh gây cười nổi tiếng nhất của Trương Lạc Bình,

Cha mẹ cô là những người theo Kytô giáo/Cơ đốc giáo và rất sùng đạo. Gia đình cô gốc người Chiết Giang. Cha cô là luật sư. Sau Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai, gia đình chuyển đến Nam Kinh. Khi cô lên sáu, gia đình cô chuyển đến Đài Loan khi lục địa Trung Hoa bị rơi vào tay Cộng Sản.

Cô học tại trường tiểu học quốc gia Trung Chính, quận Trung Sơn, thành phố Đài Bắc, và được nhận vào trường nữ sinh số 1 Đài Bắc, vào năm 1954. “Khi còn nhỏ, tôi thích nhặt và chơi đồ chơi mà người ta vứt đi, mình vui với mình: Tự đắc kỳ lạc:自得其樂.”

Khi Trần Mậu Bình học lớp 2, thường bị điểm 0 trong môn toán. Trong học kỳ hai, trò Bình khám phá ra rằng các bài thi toán đều lấy từ những bài tập ở cuối sách giáo khoa. Để không bị ở lại lớp, trò Bình đã ghi nhớ và dọn trước các bài tập cuối sách và đạt điểm tối ưu trong sáu bài toán đố. Thầy dạy toán nghi ngờ rằng trò Bình đã gian lận, trò Bình bèn thưa với thầy: “Bản thân em, em không có khả năng gian lận. Dù thầy là thầy, thầy cũng không thể xúc phạm em như thế.” Vì vậy, thầy này tự ra đề toán, trò Bình không giải được, bị thầy cho hai trứng gà/zero. Trước mặt cả lớp, thầy đã dùng bút lông vẽ hai vòng tròn lớn tượng trưng cho hai trứng quanh mắt để hạ nhục trò Bình. Sau khi bị sỉ nhục như thế, hôm sau trò Bình bị ngất xỉu trong lớp, và trò Bình bắt đầu gặp khó khăn nghiêm trọng về tâm lý, sau đó trò thường trốn đến nghĩa trang để đọc tiểu thuyết, và cuối cùng bỏ học. Trò Bình trở lại trường học vào năm 1956, nhưng vẫn thường xuyên đến thư viện để đọc sách, và sau đó bỏ học.

Vừa mới bỏ học, Trần Mậu Bình liền được cha mẹ chuyển đến trường Hoa Kỳ, Đài Bắc. Cha Trần Mậu Bình đã kèm tiếng Anh thêm, và được gửi đi học cắm hoa, dương cầm, học vẽ tranh phong cảnh với hoạ sĩ nổi tiếng Hoàng Quân Bích, và vẽ hoa và chim với hoạ sư Thiệu Ấu Hiên. Cha cô dạy cô học thuộc thơ Đường và Tống, đọc Cổ Văn Quán Chỉ; cô còn đọc các nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc, chẳng hạn như của Lỗ Tấn, Ba Kim, Băng Tâm, Lão Xá, Úc Đại Phu… Cô đặc biệt thích cuốn Hồng Lâu Mộng, mà cô đọc khi còn là học sinh lớp nhì/năm trong giờ học. Cô cũng đọc văn chương Tây Phương như các tác phẩm Bá tước Monte Cristo, Don Quixote, Cuốn theo chiều gió… Khi người ta hỏi cô muốn trở thành gì khi lớn, cô trả lời rằng cô ấy muốn kết hôn với một nghệ sĩ vĩ đại, cụ thể là Pablo Picasso.

Trần Mậu Bình đã có lần tự sát bằng cách cắt cổ tay của mình. Cô cũng đã gặp bác sĩ tâm lý, nhưng tâm lý liệu pháp mỗi tuần một lần không giúp ích được gì. Nhiều người thân và bạn bè cũng đã giúp đỡ cô.

Tam Mao học triết học tại Đại học Văn hóa Trung Quốc ở Đài Loan, với mục tiêu “tìm giải đáp cho các vấn đề trong cuộc sống.” Tại đây, cô quen với một sinh viên; tuy nhiên, “vỡ mộng trong chuyện tình cảm”, cô chuyển đến Madrid, Tây Ban Nha, ở tuổi 20 và bắt đầu theo học tại Đại học Complutense của Madrid. Tại Madrid, Tam Mao đã gặp José María Quero y Ruíz người Tây Ban Nha, lúc đó đang học lớp 12, người mà sau này cô sẽ kết hôn.

Tam Mao sau đó chuyển đến Đức, nơi cô học tiếng Đức cao cấp, đôi khi lên đến 16 giờ mỗi ngày. Trong vòng chín tháng, cô đã có bằng dạy tiếng Đức.

Ở tuổi 26, Tam Mao trở về Đài Loan. Cô đã đính hôn với một giáo viên người Đức, nhưng ông ta đã chết vì một cơn đau tim ngay trước khi đám cưới, Tam Mao tự tử bằng thuốc ngủ nhưng được cứu sống.

Tam Mao trở lại Madrid và bắt đầu dạy tiếng Anh tại một trường tiểu học, khơi lại tình xưa với José Ruíz, và họ kết hôn vào năm 1973 khi họ trước đó đã sống chung ở Tây Sahara do Tây Ban Nha kiểm soát.

Cuốn Lạc đà Khóc

Năm 1976, cô xuất bản tập Lạc đà Khóc, gồm nhiều bài văn mà bài Lạc đà Khóc được dùng làm tựa đề, bản tiếng Anh gọi là Stories of The Sahara, kể về những kinh nghiệm của cô khi sống ở Sahara cùng với người chồng tên là José. Một phần du ký và một phần hồi ký, đó là một tường thuật về cuộc sống và tình yêu trên sa mạc. Với cuốn này, Tam Mao trở thành một nhà văn viết tự truyện có giọng văn và cái nhìn độc đáo. Sau thành công vang dội của cuốn này ở Đài Loan, Hồng Kông và Lục địa Trung Quốc, những bài viết đầu tiên của cô được tập hợp thành sách, xuất bản với tựa đề Vũ Quý Bất Tái Lai: Mùa Mưa Không Trở Lại/ Gone With The Rain Season.

Cô tiếp tục viết, và những kinh nghiệm sống của cô ở Sahara và quần đảo Canary đã được xuất bản trong một số cuốn sách khác.

Vào ngày 30 tháng 9 năm 1979, José bị chết đuối khi đang lặn. Năm 1980, cô trở lại Đài Loan, và vào tháng 11 năm 1981, cô đi đến Trung và Nam Mỹ để quan sát và viết bài theo ủy nhiệm của các nhà xuất bản Đài Loan. Những kinh nghiệm này đã được ghi lại trong các bài viết tiếp theo. Từ năm 1981 đến năm 1984, cô giảng dạy và thuyết trình tại trường cũ của mình, Đại học Văn hóa Trung Quốc, ở Đài Loan. Sau thời điểm này, cô quyết định dùng toàn thời cho việc viết văn.

Sách của Tam Mao chủ yếu đề cập đến những kinh nghiệm của cô khi học tập và sinh sống ở nước ngoài. Các tác phẩm của cô được đón nhận vô cùng nồng nhiệt không chỉ ở Đài Loan mà còn ở Lục Địa Trung Quốc, tới nay vẫn được yêu thích. Từ năm 1976 đến khi cô qua đời năm 1991, Tam Mao đã xuất bản hơn 20 tác phẩm. Cô cũng đã dịch truyện tranh Mafalda từ tiếng Tây Ban Nha sang tiếng Trung Quốc.

Cái chết

Vào ngày 4/ 1/1991, ở tuổi 47, Tam Mao đã tự sát tại Bệnh viện Đa khoa Cựu chiến binh Đài Bắc ở Đài Bắc bằng cách treo cổ tự tử bằng một đôi tất lụa.

Một số người hâm mộ, đặc biệt là Trương Cẩm Yên, cho rằng cái chết của cô là một vụ giết người. Việc tự sát của cô đã đã gây xúc động lớn cho nhiều độc giả của cô, và dân chúng trên khắp thế giới nói tiếng Trung Hoa cũng bày tỏ đau buồn. Ngoài ra còn có nhiều đồn đoán liên quan đến lý do cô tự tử: sợ bệnh ung thư, thất vọng vì kịch bản của cô cho bộ phim Red Dust/Bụi Đỏ không được giải trong Liên Hoan phim và Phát Giải của hãng phim Kim Mã, Đài Loan, một thất bại mà cô chịu đựng không nổi, hoặc do buồn vì chồng cô, José, bị chết trong một cuộc lặn, 12 năm trước đó.

Năm 2019, Tam Mao được tôn vinh trên New York Times, trong mục cáo phó Overlooked, cho tác phẩm Stories of The Sahara/ Những câu chuyện về sa mạc Sahara của cô.

Tác phẩm này của cô được ca ngợi vì trong đó nói đến sự kiên trì qua nhiều thế hệ, và sách đã truyền cảm hứng cho những phụ nữ trẻ Trung Hoa (đặc biệt phụ nữ Đài Loan) khao khát thoát khỏi các chuẩn mực văn hóa bảo thủ. (Wikipedia Anh ngữ và Hoa ngữ)

(3) Ở trong các bài bút ký khác trong cuốn sách Lạc đà Khóc, tác giả có kể là dân ở đây không tắm, kể các cô gái, kể cả cô dâu, nên mùi rất hôi, đã thế còn trết một loại bùn đỏ để làm đẹp tóc.

(4) La Haye (Pháp)/The Hague (Anh) / Den Haag (Hoà Lan).

(5) nguyên văn會審: hội thẩm: họp nhau mà xét xử; cứ chiếu theo văn cảnh của bài văn thì dùng chữ ”toà án nhân dân” là thích hợp nhất.
__________________
Nguồn : Góc Sân Chơi Hoàng Diệu Australia

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Nguyễn Du)