bia_pulaubidong_miendatla_r

.

Chương 1
LỜI TỰA
Năm 1979 vì không chấp nhận sự cai trị ngu xuẩn độc tài hà khắc của nhà cầm quyền Cộng Sản một phần đông dân Việt tìm cách bỏ xứ ra đi. Hồi đó cuộc xung đột Hoa Việt ngày càng gay gắt, nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức đưa người vượt biên bán chánh thức, dành riêng cho người Hoa mục đích vừa cướp được của cải tài sản khổng lồ, vừa loại trừ được một thế lực tài phiệt phản động nguy hiểm cho chế độ.
Nhân cơ hội này, tôi mua giấy tờ giả để trốn theo, đến Mã Lai trú ngụ hết đảo này đến đảo kia tổng cộng là bốn tháng rưỡi, sau đó được định cư ở Montréal Canada sống những ngày xa xứ. Đến năm sau tôi đọc trên báo thấy các ký giả Tây Phương phỏng vấn các giới chức Việt Nam về vấn đề thuyền nhân và được trả lời trắng trợn như sau -họ là những người có liên hệ với đế quốc Mỹ hoặc lười biếng không chịu lao động hoặc trộm cắp, đĩ điếm, họ tỵ nạn kinh tế chớ không tỵ nạn chính trị…
Nghe qua tôi giựt mình thử kiểm điểm lại cá nhơn tôi và bạn bè vượt biên ở vào trường hợp nào? Trộm cắp? Đĩ điếm? Liên hệ đế quốc Mỹ, Pháp? Tỵ nạn kinh tế? Câu trả lời hàm hồ nguy hiểm quá, bây giờ thì không cần đính chánh vì mỗi người chúng ta, ai ai cũng đều biết rõ miệng lưỡi của người Cộng Sản. Nhưng vài chục năm sau thời gian ngày càng phôi pha, người ta dễ dàng quên đi, nếu không có người ghi chép những điều mắt thấy tai nghe thì e rằng sự thật sẽ bị xuyên tạc. Xét riêng về hoàn cảnh của tôi, bỏ hết sự nghiệp, cha già mẹ yếu, liều chết ra đi, không lẽ để mong kiếm chút canh thừa cơm cặn của Tây của Mỹ hay sao? Tôi cũng có thằng con trai năm 1980 vừa được hai tuổi. Tôi nhìn con lắc đầu, nếu mình không ghi lại chuyến vượt biên khổ sở vất vả nầy, thằng con lớn lên sẽ không biết gì hết, biết đâu lại trách ngược lại cha mẹ hồi xưa chắc là cường hào ác bá, tham nhũng hối lộ, ôm chưn thực dân đế quốc, thèm bơ thèm sữa mới phản bội quê hương. Có nhiều sinh viên du học nghĩ như vậy và họ dễ dàng bị Cộng Sản thuyết phục dụ dỗ.
Vì lẽ đó mà tôi phải rán viết, vừa để kỷ niệm chuyến đi của một đời, vừa để dành riêng cho con lớn lên đọc, để hiểu tại sao cả nhà phải liều chết ra đi, ăn đậu ở nhờ xứ người. Vì từ nhỏ tới giờ tôi chưa từng viết văn, nên chỉ có ý ghi lại trung thực chuyến đi mà không mảy may thêm thắt vẽ vời. Tôi hì hục viết một mạch không ngừng nghỉ tập hồi ký riêng tư của gia đình. Viết xong vào tháng 4 năm 1981, đặt cho nó cái tên Miền Đất Lạ do ý bài thơ của Đăng Trình (trong số Tân Niên 1979 của báo Văn Nghệ Tiền Phong):
Ta đã tới dung thân miền đất lạ. …
Kết luận là câu ‘Thương một đời hai chữ Việt Nam thôi’ Lúc còn ở Mã Lai gặp được tờ báo nầy, ai nấy giành nhau đọc ngấu nghiến, tờ báo rách nát sần sùi. Tôi đọc bài thơ lên cho đám bạn bè xung quanh nghe, tất cả đều ngậm ngùi muốn khóc. Trong tập nầy các tên tuổi đều thiệt, sự việc chính xác. Tôi không dám cho đăng báo vì nhiều chi tiết liên quan đến một số người.
Nhưng điều quan trọng nhứt khiến tôi đắn đo là chuyến đi khá yên lành, tới bờ tới bến yên vui, không lạc đường, không bão tố, không đói khát, không hải tặc. Tôi đâu thể nào đem cái may mắn riêng tư của gia đình để phô trương bên nỗi bất hạnh của biết bao nhiêu thuyền nhân kém may mắn khác.
Vì những lẽ đó mà tập bản thảo bị bỏ quên, nằm ỳ trong hộc tủ trên mười năm nay. Một vài bạn thân biết được khuyên tôi không nên dè dặt quá đáng vì cuộc vượt biên sau năm 1975 là một biến cố lớn lao trong lịch sử đất nước. Nó có đủ mọi hình thức với hằng trăm, hằng ngàn dáng vẻ khác nhau. Có đau khổ, có tan nát chết chóc, có chiến đấu hào hùng mà cũng có bình yên, trọn vẹn. Đâu thể nào một chuyến đi lại bắt buộc phải giống hệt trăm ngàn chuyến đi khác. Hơn nữa mỗi người chúng ta đều có bổn phận ghi chép lại, trong tầm mức của mình, thời buổi đã sống qua để dành cho người đến sau biết rõ một giai đoạn lầm than của dân tộc, để khỏi phải mò mẫm tìm kiếm trong đống sử liệu rối mù.
Nghe lời bạn khuyên tôi tiếp tục lại công trình của mười năm qua, bớt đi nhiều chi tiết riêng tư, thêm nhiều suy tưởng mới. Chuyến vượt biển ngày nào tưởng đã lãng quên nhè đâu như hiện lên trước mắt, cái cảm giác bồi hồi xao xuyến như mới hôm qua. Vì có quyển Đất Lạ của Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng, quyển Mưa Đất Lạ của Trần Diệu Hằng đã xuất bản mấy năm trước nên tôi e rằng độc giả dễ lầm lẫn nên thêm vào tựa của quyển Miền Đất Lạ nầy hai chữ Pulau Bidong.
Viết xong tại Laval-des-Rapides. Quebec. Canada, ngày 30-4-1991
Võ Kỳ Điền

Chương 2

BÌNH DƯƠNG, MỘT NGÀY TÁI NGỘ
Buổi sáng Chúa Nhựt đầu năm dương lịch 1979, tôi ngồi tiếp chuyện với bà Hai ở phòng khách. Từ Búng lên Bình Dương, bà nôn nả báo cho hay một tin vui. Đó là cô Hà, con gái út của bà, vượt biên thành công qua bức điện tín đánh về từ một phương trời xa. Bà vui mừng nét mặt rạng rỡ. Cầm miếng giấy nhỏ màu xanh lợt trong bàn tay run run, bà nói thì thầm bên tai tôi như sợ người ngoài nghe được:
– Mầy coi nè, cái con nhỏ thiệt không ý tứ. Chiều hôm qua nhận được dây thép xé ra đọc rồi tao muốn nghẹt thở xỉu luôn. Ổng nghe ồn ào chạy ra coi lại thì nói là nó tới Mã Lai bình an. Thiệt hú vía! Mầy biết tại sao không? Nó hà tiện viết hai chữ “bình an” dính lại làm một. Tao ba chớp ba sáng đọc lộn là “bị nạn” … Mấy tuần nay tao với ổng trông đứng trông ngồi. Có tin run quá, quáng mắt đọc không ra chữ.
Nói liền một hơi, rồi ngồi thở một hồi, bà chắc lưỡi tiếc cho tôi:
– Phải chi hồi đó mầy tính được, đi chung một chuyến với nó là xong rồi!
Tôi mừng cho cô Hà thành công tới nơi an toàn, trong bụng cũng thấy tiêng tiếc phải chi liều gan một chút đi đại thì bây giờ khỏe rồi. Cô Hà dạy chung một trường với vợ chồng tôi và cùng bị cho nghỉ việc một lượt vì cái tội lúc trước làm hiệu trưởng một trường quận. Cô hiệu trưởng còn trẻ măng chưa chồng. Có anh bạn đồng nghiệp thầm thương trộm nhớ mà không dám nói ra. Trước khi đi cô tâm sự từ giã, trách cứ cái anh chàng Thạnh cù lần – đàn ông con trai gì mà nhát như thỏ đế!
– Ờ, ờ, anh Thạnh e ngại bị cô từ chối, ở tỉnh nhỏ người ta nói ra nói vô khó lòng.
Xưa kia anh ở cùng làng,
Bởi anh chậm bước nên nàng đi xa.
Bây giờ nhớ tới vụ vượt biên thấy câu nói đó đúng quá với tôi. Cô Hà đã thoát được còn tôi tới chừng nào? Đàn bà con gái người ta chân yếu tay mềm còn dám liều mạng như vậy trong khi đó mình thân dài vai rộng mà cứ do dự lừng khừng thì bao giờ mới tính chuyện lớn được.
Dầu sao thì cô ấy một thân một mình cũng dễ tính. Còn tôi thì vợ con đùm đùm đề đề, thằng Tâm Bi mới có mười tám tháng, còn quá nhỏ để giải nắng dầm mưa, vượt qua bao sóng gió, rủi có bề gì thì sao? Nhiều đêm trằn trọc nghĩ tới nghĩ lui, bàn với Duyên:
– Vợ chồng mình khó mà sống yên thân. Cái thế bắt buộc phải ra đi, nhưng hoàn cảnh bề bộn của mình, anh tính không ra.
Duyên khuyến khích tôi nhưng vẻ mặt buồn buồn:
– Hay là anh đi trước, mẹ con em ở lại tính sau!
Làm sao mà tôi chịu như vậy. Tôi và nàng mới cưới nhau, vừa có được thằng con trai nhỏ. Cuộc đời bây giờ đầy bất trắc, quê hương đất nước kể như tiêu tan, cái tình yêu gia đình chỉ còn lại có chút xíu đó, làm sao dám liều lĩnh phiêu lưu, thành ra cứ hẹn lần hẹn lữa, mãi cho tới hôm nay tôi vẫn còn ngồi thừ trên ghế. Bà Hai trước khi ra về còn dặn dò:
– – Mầy tính thì tính lẹ lẹ đi, người ta lấy ghe lấy tàu đi từ từ hết, đến lúc muốn đi thì không còn chiếc nào, khi đó làm sao xoay trở?
Tôi gật đầu nói nhỏ:
– Ngày nào xuống Búng thăm hai bác là ngày đó con từ giã… Con cũng muốn quyết định dứt khoát nhưng như có cái gì níu kéo lại. Phải rời bỏ cái tỉnh Bình Dương nầy, buồn lắm bác Hai ơi!
°
Tôi dẫn cái xe đạp ra ngoài, cái xe có gắn thêm cái yên nhỏ để thằng Bi ngồi đằng trước. Nó còn quá nhỏ nên phải ràng buộc cẩn thận. Trên đầu tôi đội cái nón kết đỏ bầm, thứ nón của lính nhảy dù, còn Bi thì đội nón vải trắng có hình mỏ neo kiểu lính thủy có quai để khỏi rớt.
Tôi muốn chở con đi một vòng thành phố để nhìn cho hết, cho kỹ cái nơi mà tôi đã sống gần nửa đời người. Nơi đó có buồn có vui, có những hình ảnh thân yêu, có những kỷ niệm thời thơ ấu. Như có một sợi dây vô hình ràng buộc, trái tim tôi như thắt lại khi phải quyết định xa quê.
Trưa đó trời nắng gắt, hai dãy phố chợ như bị bỏ vô lò mà hấp, hơi nóng bốc lên hừng hực từ các mái ngói, mái tole, mặt nhựa đen mốc, những lề đường xi măng khô cứng. Trước nhà bây giờ là giang sơn của mấy bà bán gạo lậu. Họ ngồi đông nghẹt chen lấn nhau, trước mặt là những thúng gạo trắng đầy vun, các đống khoai đỏ, vàng đổ ngổn ngang như đất đá vụn. Rải rác đây đó giống gánh vương vãi. Giờ này khách mua đã thưa. Có vài cán bộ áo trắng, bộ đội áo Ka Ki màu cứt ngựa xanh đùng đục, mang dép râu. Có người dắt xe đạp treo tòn ten bó rau xanh dờn đi chen lấn các bà nội trợ áo bà ba đen, nón lá. Tự dưng nơi đây trở thành cái chợ trời ngang xương. Ban đầu có vài ba người đàn bà lạ mặt ngồi bán các thứ khoai đậu gạo nếp. Họ bày hàng trên cái lối đi trước nhà. Chợ thì ở tuốt đằng kia, sát cạnh bờ sông. Từ ngày mấy ổng bỏ rừng về thành phố, toàn dân miền Nam thất nghiệp. Vợ con công chức, quân nhân chế độ cũ, chồng cha bị đày đi một nơi khỉ ho cò gáy nào đó, ở nhà túng quẫn phải bương chải tảo tần kiếm kế sinh nhai, hầu sống còn qua ngày. Họ trở thành bạn hàng buôn thúng bán bưng bất đắc dĩ. Tìm chỗ ngồi không được ở đằng kia, thôi thì giành dân lấn đất ở đằng nầy. Đằng kia là chợ mà đằng nầy là cái hành lang lát gạch bông bằng phẳng của dãy phố nhà tôi.
Phía bên kia là công viên nắng cháy xác xơ, hồ nước cạn khô đáy đầy đất đá, bãi cỏ loang lổ úa vàng vì không người chăm sóc, chỉ còn trơ lại một cây khuynh diệp cằn cỗi lưa thưa đứng lẻ loi ở góc sân. Tôi dẫn cái xe băng ngang qua đường đứng dưới bóng cây, nhìn trở lại bên nhà, nói cho Bi nghe mặc dầu biết nó không hiểu:
– Con nhớ nghe, cái nhà nầy là nhà của Nội. Cả đời ông nội làm việc cực nhọc vất vả mới tạo dựng được. Ba được nuôi nấng lớn lên ở đây, con cũng vậy. Hồi nhỏ ba ưa đi chơi bị ông nội lấy dây nhợ cột chân vô cái cửa sắt. Mỗi khi gần Tết, ba với chú Sáu, chú Bảy con phải lau chùi hết mấy cái cửa đó. Cực lắm mà vui. Mấy chậu sứ Thái Lan đầy bông đỏ để trên lầu mua ở vườn ương cây bên Thủ Đức, đem về chiết ra từng chậu nhỏ, phải chăm sóc liên tục trong mấy năm mới được xum xuê như con thấy…
Nghe tôi thì thầm, thằng nhỏ có biết gì đâu, u ơ mấy tiếng trong miệng nhỏ xíu. Tôi nhìn cái bảng hiệu tiệm của ba tôi. Những chữ bằng cây to đầy sơn trắng được cưa đục khéo léo đặt trên nền nâu đậm vẫn còn sáng sủa nổi bật như cái ngày đầu tiên thợ hồ đến gắn vào tường.
Lúc đó tôi mới lớn ba tôi muốn có một cái bảng hiệu coi cho được. Cái bảng cũ trông thô sơ quê mùa. Tôi phải bỏ ra một thời gian đi trên các đường phố lớn Sài Gòn để ăn cắp kiểu vở. Rốt cuộc chọn kiểu này. Tôi đã đặt ông thợ mộc già người Bắc, điếc tai ở cầu Bình Lợi làm. Nói hoài ông không hiểu, ra dấu đến mỏi tay, cuối cùng phải dẫn ông đến cái tiệm có bảng hiệu đẹp đẽ kia, rồi xin phép chủ nhà đo lấy kiểu mẫu. Mỗi năm gần Tết, tôi phải bắt thang leo lên, lấy vải thấm nước lau cho sạch từng chữ cái. Hiệu tiệm và tên ba tôi rất dài phải lau cả buổi mới xong. Bây giờ, làm sao còn được cái công tác cực nhọc mà sung sướng đó nữa rồi!
Cha con tôi lần ra bờ sông theo đường Bạch Đằng nhỏ hẹp có cái cầu tàu mục nát cạnh chợ cá những hàng cây dương già gốc nổi u sần sùi thân ngã nghiêng. Gió từ sông thổi lên nhè nhẹ, mang theo mùi tanh tanh của sông nước. Ánh nắng chói chang lấp lánh trên làn sóng bạc phản chiếu như hàng trăm ngàn chiếc gương nhỏ lăn tăn. Từng dề lục bình xanh xanh trôi rập rềnh không biết về đâu. Cuộc đời cha con tôi bây giờ sắp sửa trôi dạt như đám lục bình nầy.
Trưa nay đứng ngang dòng sông chảy ngang qua chợ, trời nóng hừng hực, cảnh vật lờ đờ lặng thinh không thơ mộng chút nào, vậy mà tôi đâm nhớ cái câu ca dao thời còn thơ ấu, nghe má đưa em trên võng:
Ra đi là sự đánh liều
Mưa mai nào biết nắng chiều nào hay.
Cái câu này hơi kỳ. Tôi nghĩ quẩn nghĩ quanh. Những hình ảnh vụn vặt, chắp nối. Không hiểu tại sao tôi cứ nghĩ đây là câu hát kể lể tâm sự của một cô thôn nữ nào đó vì tiếng gọi của yêu đương mà dứt khoát ra đi lấy chồng. Theo chồng hay theo trai? Điều đó đâu có gì quan trọng, cái quan trọng là họ yêu nhau. Đã yêu nhau rồi thì tương lai có ra sao cũng mặc kệ. Buổi sớm, buổi chiều, nắng cháy hay mưa dầm, làm sao biết trước? Giữa tình yêu nồng nhiệt cuống quít và cuộc sống lạnh lẽo buồn tênh, phải chọn một. Cô đã chọn trong cái tâm trạng lo lắng, sợ sệt, bồng bềnh. Tôi cũng y như cô ta, nhưng cái tình của tôi có khác đôi chút.
Phải rồi, khác một chút xíu ở cái chỗ cô tự nguyện ra đi. Còn tôi thì ở cái thế bắt buộc phải xa lìa. Tôi cúi đầu nhìn xuống thằng Bi rồi chỉ cho nó cái cầu tàu bằng cây cũ kỹ đã hư mục, một phần còn gác trên bờ hàng cột xiêu vẹo, một phần chìm sâu dưới nước.
– Con ơi, hồi nhỏ tám, chín tuổi ba bì bà bì bõm lặn hụp tập lội ở tại cầu tàu chỗ gần cây dương cụt đầu nầy sâu lắm, có lần hụt chân tưởng bị chết đuối. Năm mười hai, mười ba tuổi, ba đi chặt trúc làm cần, uốn căm xe đạp làm lưỡi câu để đi câu lươn, không mang dép guốc nên da chân bị nứt nẻ, đất sình bùn dơ dáy ăn lở loét, phải nhờ bà nội lấy bã trầu đắp cho mới hết…
Để trả lời, thằng nhỏ chép miệng ư ư… bàn tay mũm mĩm như củ khoai mì quơ quơ như muốn chụp lấy vật gì trước mặt.
Tôi nhìn lên phía bên kia đường. Ty Bưu Điện cũ kỹ già nua được xây cất từ thời Pháp thuộc, mái ngói đen mốc đầy rong rêu, tường vôi loang lỗ chỗ vàng chỗ xám, cạnh tường dây leo mọc chằng chịt đứng trơ trọi bên bờ sông như một ông ký về già lẻ loi, buồn thảm, kéo lê cuộc đời quạnh hiu. Tôi còn nhớ rất rõ, lần đầu tiên được sai đi bỏ thơ, ở nhà dặn dò kỹ lưỡng mua con cò mười lăm cắc để dán lên bao. Tôi đến nơi đây, rụt rè hỏi mua được tới mười lăm con. Mừng rơn, nghĩ rằng bữa nay nhà nước bán rẻ, sướng quá le lưỡi thiệt dài thấm nước miếng dán một con vô bao, cẩn thận đem bỏ vô thùng, xong rồi đem mười bốn con còn lại, về nhà khoe rùm beng. Cũng cái thùng thơ rỉ sét này đã chứng kiến cảnh tôi bỏ từng bức thơ màu hồng yêu đương ấm áp, bức thơ màu xanh hy vọng tương lai gửi đến một cô bạn gái đẹp đẽ dễ thương nào đó mà chưa quen, tay run run, trống ngực đập thình thịch, mắt lấm lét ngó trước ngó sau, sợ lũ bạn quen bắt gặp. Cái thơ đã bỏ vô thùng mà còn ngó hoài, cứ lo sợ mất.
Xa sông cách núi lỡ vời
Gởi thơ sợ lạc gởi lời sợ quên.
Tôi đạp xe vòng qua bên kia chợ. Người buôn kẻ bán lưa thưa. Đúng là cảnh chợ chiều. Mũi tôi ngửi được cái mùi chợ cá quen thuộc. Mùi khô cá mặn, mùi mắm, mùi củ cái muối, mùi tro diêm, mùi đường thẻ, mùi thuốc bắc… và hàng trăm thứ mùi khác trộn lẫn nhau, quyện lấy nhau tạo cho không khí nơi đây một cái gì gần gũi thân yêu. Tôi đã hít thở mấy chục năm qua, từ thuở bé thơ cho đến khi khôn lớn. Cái hơi hướng đó nó đã ăn tận vào buồng tim thớ phổi. Tôi tin chắc rằng nếu phải xa nơi đây, tạm ngụ ở một phương trời vô định nào đó, tôi vĩnh viễn không bao giờ tìm thấy được cái dư vị của những ngày thơ ấu.
Chiếc xe lăn bánh chầm chậm trên đường phố. Bên này là đường Nguyễn Thái Học, bên kia là Đoàn Trần Nghiệp. Cũng thời là nhà cửa phố xá ngày xưa nhưng có vẻ gì tiêu điều xa vắng. Mới bốn năm, mưa nắng đã làm cho gạch vôi ẩm mốc xám đen, tang tóc buồn thảm. Nhìn những bước chân người đi lại trên vỉa hè, tôi như thấy được nỗi chịu đựng đầy cay đắng trong cái dáng hấp tấp vội vàng hay ngập ngừng đắn đo. Ôi! Những người dân vô tội đáng thương của một đất nước “anh hùng.” Trên đường Trưng Vương, tiệm vàng Tín Thành cao ba từng bị tịch thâu được đổi thành Phòng Y Tế Thị Xã. Đã gần xế chiều vậy mà bệnh nhân vẫn còn sắp hàng đứng ra tới ngoài sân. Nhiều em bé trơ xương nằm lã người thiêm thiếp trên tay mẹ. Nhiều cụ già khăn áo bạc màu hom hem còm cõi nhẫn nhục sắp hàng chờ đợi tới phiên mình. Qua đường Hùng Vương trường Trung học Nguyễn Trãi thương yêu ngày xưa, tôi hàng ngày hai buổi đi về với bao hình ảnh thầy bạn thân thương, bao mộng mơ một thời mới lớn, bây giờ trở thành Phòng Giáo Dục. Hàng dừa xanh mát rủ bóng trong sân đã được đốn đi thay vào đó là sân đánh bóng chuyền treo cái lưới rách giăng ngang, dành cho công nhân viên nhà nước chơi đùa. Rải rác có các cán bộ dép râu, nón cối gương mặt lầm lầm lỳ lỳ. Tôi nghe đau nhói trong tim. Có cái gì mất mát tổn thương quá lớn… như một thứ tình yêu rạn nứt.
Đất đổi hoa màu nhà đổi chủ
Trâu quên mục tử, ngựa quên chuồng.
(Nguyễn Bính)
Không, tuy cảnh đổi thay, người đổi thay nhưng lòng tôi không thay đổi. Dầu người ta có bắn phá, đập nát, đốt cháy hết cả cái tỉnh Bình Dương nầy nhưng trong tôi vẫn còn hoài, còn hũy hình ảnh cái chợ Phú Cường bằng bê tông cốt sắt đồ sộ với cái tháp đồng hồ cao, sừng sững, dòng sông Sài Gòn uốn khúc lặng lờ trôi từ thành Săn Đá xuống mang theo trong dòng vẩn đục từng dề lục bình xanh xanh trổ bông tim tím, dốc ông cò thoai thoải im mát hai hàng cây sao cao vút, dốc nhà thương có trường Nam Tỉnh lỵ Châu Thành, có nhà thờ bằng đá hoa cương, mỗi khi hè đến hàng phượng vĩ trổ hoa đỏ rực, rền rền tiếng ve.
Trong đầu óc non nớt những ngày tháng ngây thơ đó thần tiên quá. Những hình ảnh như vậy ngàn đời trong tôi vẫn không phai nhạt chút nào. Nó đã thấm vào tim óc, vào từng tế bào từ lâu lắm. Chắc từ hồi còn ở truồng tắm mưa, chạy lượm xoài, lượm ổi rụng trong những cơn mưa giông, giành giựt nhau la hét vang rân từ đầu làng cho tới cuối xóm.
Ôi, Bình Dương thân yêu của tôi, chỉ vài ngày nữa thôi, tôi bắt buộc phải đứt ruột mà chia lìa. Ở đó tôi còn biết bao nhiêu bạn bè mà gương mặt xanh xao màu rau nhiều hơn màu thịt cá. Ở đó tôi có biết bao kỷ niệm thời thơ ấu, bao gắn bó của một thời mộng mơ, bao tin tưởng của thời thành đạt. Làm sao tôi có thể ra đi mà không bịn rịn xót xa. Tôi cũng muốn đi một vòng thiệt xa để nhìn cho hết những con đường dốc khúc khuỷu quanh co bùn sình trơn trợt của các hầm đất sét ở Lò Chén, các con đường làng kẽo kẹt tiếng đọt tre đong đưa miệt Xuân Hiệp, những con đường đất đỏ ngoằn ngoèo im mát bóng cây ăn trái miệt Giếng Máy, Cầu Ông Đành, những liếp rau ngát xanh, những bờ nước đầy rong đuôi chồn trong vắt miệt Phú Văn rồi vòng lên các ngọn đồi cao miệt Bà Lụa để nhìn trở lại dòng sông Sài Gòn chảy uốn khúc lặng lờ qua tỉnh lỵ. Tôi muốn gặp hết tất cả những người quen biết, tất cả bạn bè thân yêu để nói câu giã biệt. Nhưng làm sao, làm sao được! Tôi không thể nói gì hết. Gần trên bốn năm nay rồi tôi sống im lặng, vật vờ, thu mình như một cái bóng mờ, lặng thinh câm nín. Một chút động tĩnh cũng không dám. Người ta hoài nghi, soi mói, rình mò. Tôi không thể nói bất cứ điều gì dầu chỉ là lời từ giã. Nếu nói được thoải mái thì đâu cần phải ra đi làm gì! Đúng rồi, nếu nói được thì đâu cần phải đi!!!
Giờ nầy với ánh nắng thoi thóp của buổi chiều sắp tắt tôi nhìn trở lại Bình Dương của tôi một lần. Một lần cho thật rõ, thật kỹ những cảnh vật, màu sắc, âm thanh, mùi vị… Tôi muốn ôm hết, thu hết, ghi nhận hết trong tim, trong óc bởi vì tất cả sẽ vĩnh viễn mất đi khi tôi cất bước lên đường. Mai kia khi tôi đi rồi thì tương lai kể như mù mịt, quá khứ trở thành chiêm bao!
Bình Dương bây giờ, Bình Dương của ai?
°
Chuyến xe đò quốc doanh Đồng Hiệp sơn đỏ, cuối cùng trong ngày đưa vợ chồng tôi rời khỏi tỉnh. Cái bến xe chật hẹp nằm cạnh trường Trung học Bồ Đề của tỉnh lỵ buồn hiu ảm đạm dưới ánh nắng thoi thóp của buổi chiều sắp tắt. Màu nắng vàng vọt, lẫn trong làn gió thoảng có cái hơi hướm của biệt ly. Lòng tôi chùn xuống, nhấp nhô theo từng căn nhà, từng miếng vườn, từng khúc quanh của con phố nhỏ. Tất cả đối với tôi quen thuộc quá. Ngang qua nhiều xóm làng hai bên đường, nhà nhà còn treo đầy cờ đỏ sao vàng của ngày lễ qua chưa kịp gỡ.
Cũng có thể vì chưa có lịnh nên không ai dám lấy xuống. Chiều nay đâu có giông bão mà sao lòng tôi đầy mây giăng, trời không mưa mà mắt tôi ươn ướt. Tôi cố nhoài người ra khung cửa xe để nhìn cho rõ, cho kỹ, nghe văng vẳng đâu đây câu hát ngày xưa:
Ra đi là sự đánh liều
Mưa mai nào biết nắng chiều nào hay.
Bây giờ là nắng buổi chiều, tôi sắp phải đương đầu với những cơn mưa giông buổi sáng. Liệu tôi có đủ nghị lực để chống chỏi với gió táp mưa sa chăng? Lò dò tôi mở cái xách dưới chỗ ngồi, để tìm cái khăn nhỏ. Tôi thấy một hũ dầu cù là lớn, chai Nhị Thiên Đường, mấy gói thuốc cảm, thuốc đau bụng, cùng một vĩ thuốc ói mửa. Như một dòng suối tràn không chặn lại được, nước mắt tôi tự nhiên trào ra ràn rụa. Những giọt nước mắt chảy dài trên gò má, rơi xuống miệng mặn đắng. Cũng may tôi có mang cái kiếng đen, nên không ai thấy. Mấy món tôi vừa thấy được đó là của má tôi, hồi sáng nầy chính tay bà đã để vô. Chuyến đi quá hấp tấp nên tôi không kịp chuẩn bị gì hết. Lúc gần trưa hai đứa em, Tuyết và chồng nó từ Sài Gòn về. Hai đứa chun vô nhà bằng cổng sau nhanh như một luồng gió, hấp tấp báo cho hay là chuyến vượt biên sắp khởi hành, vợ chồng tôi và các em còn ở lại bình Dương, phải xuống Sài Gòn ngay trong chiều nay để sáng mai đi Bạc Liêu, chuyến xe sớm nhất trong ngày. Làm sao kịp, tuy đã biết là sẽ đi nhưng cứ tưởng là ít ra phải năm ba tuần nữa. Tự nhiên tay chân quýnh quáng, tôi chạy ra nhà trước, đứng nhìn cái bàn viết, cái tủ rồi ra sau, vô phòng ngủ nhìn cái giường, cái tủ áo rồi chạy lên lầu, tần ngần đứng lặng nhìn cái tủ sách. Dọc theo tường, cạnh bàn thờ tổ tiên giữa nhà, là cái tủ sách bằng cẩm lai thiệt lớn. Đời tôi đó! Cái tủ sách hằng nâng niu ôm ấp giữ gìn bây giờ nó đã trống trơn. Sách vở bị tịch thu từ những năm trước. Từng đoàn người lạ mặt thô lỗ túa vô nhà, lục lọi, bươi móc tứ tung, cuối cùng họ bưng ra xe từng chồng sách vở, tạp chí, tranh ảnh đủ loại. Họ đã rứt đi từng cõi lòng tôi. Trên mấy ngăn đầy bụi, bây giờ chỉ còn lõng chõng năm ba bộ sách chữ nho xưa, vì không đọc được nên họ quăng bỏ lại. Đây đó phất phơ vài màng nhện mỏng, bụi bám giăng giăng. Đời tôi không thể thiếu sách vở. Đi đâu thì đi làm gì thì cũng phải có một cuốn kế bên. Tại sao không lựa một quyển để đem theo làm kỷ niệm. Sách gì cũng được. Người ta vượt biên đem theo vàng bạc châu báu, tại sao tôi không đem theo sách? Quyết định xong, tôi lướt nhìn một lần chót những tựa sách thân yêu. Bộ Khang Hi tự điển dầy mo để cạnh bộ Tứ Thơ bìa đỏ hình cỗ chiến xa ngựa kéo, bên trên có che cây lọng tròn, quyển Dịch Kinh bạch thoại tân giải, Thi Kinh bạch thoại chú giải bìa đen, giấy mỏng in thạch bản. Mấy quyển tiểu thuyết Đường Cung Nhị Thập Triều, Thanh Cung Thập Tam Triều, Tam Quốc Chí, Hồng Lâu Mộng, Lục Dã Tiên Dung, Liêu Trai Chí Dị, Đường Thi Tam Bách Thủ nằm đứng ngả nghiêng bên cạnh mấy cuốn Trung Quốc Văn Học Sở Giản Yếu, Cổ Văn Quan Chỉ, Cổ Văn Bình Chú, chữ đồng nhỏ như con kiến. Tôi rờ rẫm từng cuốn, rồi cầm lên bộ Từ Nguyên. Đó là một bộ tự điển được in ở Thượng Hải Thư Cục, tôi đã mua ở Chợ Lớn lúc mới bắt đầu học chữ nho với giá rất mắc, bìa đóng bằng vải dầy, giấy trắng mịn mỏng tanh. Nhưng lại để xuống. Hai quyển thượng và hạ, mỗi quyển trên cả ngàn trang, nặng quá. Tuy rằng nó quí thiệt, nhưng làm sao ôm xách đem theo. Nhìn những quyển sách nầy tôi như thấy được những ngày tháng ở Văn Khoa Nguyễn Trung Trực, ở Sư Phạm Cộng Hòa. Những ngày tháng sống đời sinh viên hạnh phúc biết bao nhiêu!
Ở đó tôi có được những bạn thân, những vị thầy quý mến. Thầy Lê Ngọc Trụ đơn giản trong nếp sống của người học giả lúc nào cũng thoải mái, cặp kiếng già thường xề xệ trên sóng mũi, cái mũi lớn đo đỏ như trái cà chua. Ngày nhập học tôi đã lầm thầy với ông tùy phái, đến khi vào lớp mới biết mình đoán người qua cách ăn mặc là ngu ngốc hết sức. Từ đó tới sau, lúc nào tôi cũng nhớ hoài câu “ngọc trụ bình thiên” Thầy Nghiêm Toản mập người lùn thấp dáng đi bệ vệ miệng hơi hô, tánh chững chạc nghiêm nghị mà ôn hòa. Tôi chưa bao giờ thấy thầy lộ vẻ nóng giận. Ngồi dưới bàn học nhìn lên, thầy giảng bài từ tốn thong dong. Thầy Nguyễn Đăng Thục ốm cao dong dỏng, lòng bàn tay đỏ như son, càng giảng càng hùng hồn lưu loát. Có điều môn Triết Đông Phương sao mà hơi khó hiểu rồi cuối cùng thành ra không hiểu! Tôi vốn suốt đời nghe tới môn nầy là sợ. Cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác thiệt ốm, thiệt nhỏ và thiệt già. Có thể cụ đã trên chín mươi rồi không chừng, người cụ mỏng manh nhẹ hửng. Mắt cụ đã hầu như gần lòa mỗi lần đọc chữ phải dùng kiếng lúp. Cụ Cử Thẩm Quỳnh tuy tuổi cũng đã cao nhưng còn tráng kiện, lúc nào quần áo cũng phẳng phiu. Suốt mấy năm học, tôi chưa bao giờ thấy cụ ngồi. Có anh bạn phụ đề Việt ngữ – cụ Quỳnh không ngồi vị sợ quần nhăn! Mỗi lần nói chuyện với cụ là phải dùng chữ “bẩm” chớ không nên dùng chữ “thưa” vì như vậy mới đúng là “con nhà gia giáo!” Hỏi ra mới biết có một thuở cụ ngồi Tổng Đốc Hà Đông. Cụ Vũ Huy Chiểu, đậu Tú Tài Kép nhưng tài hoa rất mực, tuy đôi mắt đã lèm nhèm nhưng mỗi lần cụ viết xong một bài thư chữ Hán trên bảng đen, tôi nhìn say mê ngây ngất. Những nét chấm, phết, sổ tung hoành bay bướm đẹp như những lá tre đan vào nhau.
Ôi, tuổi hoa niên thoáng nhanh như cơn gió. Mới đây ngày nào mà đã gần hai mươi năm. Tôi cầm lấy hết cuốn nầy tới cuốn kia, cuối cùng rồi chọn lấy bộ sách bói của gia đình. Đó là một bộ sách xưa lắm rồi, cũ kỹ tả tơi. Không biết từ đời nào, trong nhà đã có bộ sách này, khi lớn lên đã có nó trên bàn viết của ba tôi. Sách gồm sáu cuốn mỏng nhỏ, in bằng bảng cây khắc tay nét chữ rất thô, giấy bạch mỏng tanh xếp đôi lại làm một tờ, màu giấy đã ố vàng ngà ngà, mối mọt ăn lủng nhiều chỗ thành những đường ngoằn ngoèo đen đủi. Đó là quyển Tăng San Bốc Dịch của Dã Hạc Lão Nhơn. Tôi bèn cầm xuống nhà dưới, kiếm giấy ny lông bao lại thành nhiều lớp, dùng bàn ủi đốt cho dính khắc các mối ráp, nếu có bị nước biển thấm vào, nó cũng không mục được. Bộ sách đã lâu năm lắm rồi, không thể để cho nó hư rách thêm. Các quyển khác có tiền có thể mua lại được, ở Hồng Kông, Đài Loan thiếu gì. Quyển này thì không. Cái giá trị không phải nội dung của nó mà là kỷ niệm của gia đình. Đã bao lần ông tôi, bác tôi, ba tôi đã cầm lên, lật ra coi tới coi lui, ngâm nga từng câu phú câu thơ… rồi bây giờ tới tôi nữa. Nếu để lại, mấy trăm trang giấy bạch chỉ đủ cho mấy ông ghiền dùng quấn thuốc hút trong vài tuần!
Lúc đó thì Duyên vừa ở trường về. Tôi bèn cho hay chuyến đi. Nàng nghe tin như từ cung trăng rớt xuống, cũng như tôi ban nãy, nàng không biết lấy gì bỏ gì. Cuối cùng thì hai vợ chồng gom góp chút đỉnh quần áo tiền bạc đồ vật dụng cần thiết hằng ngày. Nhiều nhất là thuốc men cho đứa con trai nhỏ, thằng Tâm Bi mới vừa tập đi lẩm đẩm. Món nào cũng tiếc muốn mang theo hết. Mà làm sao được, đi trốn chớ bộ đi du lịch sao. Khi hai cái giỏ xách của tôi và Duyên đã đầy sắp được đóng kín lại thì má tôi từ trong phòng đi ra tay cầm một mớ thuốc nhét vô thêm miệng dặn dò:
– Hai con rán giữ mấy món thuốc nầy. Đi đường xa bệnh hoạn lôi thôi có nó cũng đỡ, hỏng có ba mầy với tao theo, rủi tụi bây đau yếu không biết rồi làm sao xoay trở.
Má tôi như vậy đó, lúc nào bà cũng coi tôi như còn nhỏ xíu, thấy có bổn phận phải chăm sóc nuôi nấng, ngay cả khi tôi đã có vợ có con. Nói xong bà giằng lấy thằng Bi ôm chặt nó vào lòng. Tôi nhìn lên trần nhà, mấy ngọn đèn ốm trắng hình như không còn song song mà chúng chập choạng đâm xiên vào nhau. Ba tôi đứng cạnh bên hút thuốc liên miên, ông bất động như pho tượng, im lìm không nói năng. Có lẽ hình ảnh tôi bồng con đi vượt biên trưa nay giống y như hình ảnh gần bốn mươi năm về trước, từ bờ sông Dương Đông của hải đảo Phú Quốc xa xôi, ông đã ẵm tôi theo ghe bầu mà về đất liền để chạy giặc Nhật Bổn. Tôi nghe đau nhói trong lòng. Căn nhà rộng rinh, từ lâu rồi nó đã trống trơn. Cũng may là còn có anh em tụi tôi quây quần ấm áp. Bây giờ xúm rủ nhau đi, như đàn chim tứ tán, xao xác bay lìa tổ. Cái tổ rộng thênh thang chỉ còn có hai con chim già ngơ ngác bơ vơ. Rồi đây ai lo cơm nước, ai đỡ đần việc nhà việc cửa, bịnh hoạn ai lo chăm sóc thuốc thang? Ba má tôi đó, hai ông bà già da dẻ nhăn nheo như vỏ cây sao, cây dầu, lưng còng gối mỏi, sống đã trên bảy mươi năm trong cái cuộc đời đau khổ đầy nước mắt nầy. Bây giờ một lần nữa chứng kiến đám con cháu dứùt ruột ra đi để đến một phương trời xa xôi nào đó, mà tương lai chưa biết thế nào?
Tôi bất chợt ôm lấy hai người mà khóc ngất như một đứa con nít lên ba. Những dòng nước mắt trào ra như suối, không kìm lại được. Ba tôi nói trong nỗi nghẹn ngào:
– Để tụi bây đi tao đứt từng khúc ruột, nhưng biết làm sao bây giờ. Người ta không để cho gia đình mình sống yên.
Ôi, tình cha mẹ thương con để đâu cho hết. Bây giờ ngồi trên xe, tôi lục lọi trong cái xách để kiếm cái khăn, bất ngờ đụng phải mấy món thuốc mà má tôi đã nhét theo. Bỗng dưng tôi thấy choáng váng quay cuồng, đầu óc lộn xộn lung tung rối beng như nùi chỉ. Những hình ảnh chập choạng ráp nối. Thấp thoáng đâu đây, tôi thấy cái nhà cẩn gạch sứ trắng số 16 đường Nguyễn Thái Học thị xã Phú Cường có ba tôi đeo kiếng già, áo sơ mi trắng ngồi bán thuốc, má tôi áo bà ba trắng quần lãnh đen xách giỏ mây đi chợ. Lối xóm có chú tư Vũ Văn Lư ốm ốm cao cao ngồi trên chiếc ghế tréo bằng da để đóng giày, cô hai Hiệp Thành mập phục phịch mở tiệm cầm đồ, cô hai Hiệu trắng trẻo dịu nhiễu, bên tiệm thuốc tây, ông Mỹ Kiều có tật chân đứng ẹo mình một bên uốn tóc cho khách, bác hai Đức Hòa mập mạp bán sắt bán đinh. Trên dốc nhà thương, miệt Bưng Cải có các bạn tôi, anh Hưng, anh Thạnh, anh Phúc, anh On, tất cả đang quây quầy thân ái, kể chuyện buồn vui đời dạy học và những đứa học trò thân yêu nữa, chúng đang học tập nô đùa ở sân trường. Tôi thấy hết rất rõ những kỷ niệm của trên ba mươi năm sống êm vui ở cái vùng đất trái ngọt cây lành nầy. Tôi cũng nhìn thấy những chiếc xe thổ mộ già nua chất đầy giống gánh lọc cọc, lọc cọc chạy trên những đường đất đỏ ngoằn ngoèo Tương Bình, Bến Thế, Mỹ Hảo, hai bên là ruộng rẫy xanh mát. Những người đàn bà lam lũ tảo tần xuôi ngược, những người dân quê nghèo khổ dang nắng dầm sương vun xới những luống rau xanh…
Cuộc đời tôi đó. Nó gắn chặt vào những hình ảnh thiệt đơn sơ, thiệt tầm thường nhưng đầy đủ quá, thân thương quá. Tôi còn ước muốn gì hơn? Vậy mà đến gần nửa cuộc đời, bắt buộc phải đành đoạn ra đi để đến hay không đến một góc biển chân trời xa lạ nào đó, không cha mẹ, không người thân, không bạn bè, rồi sẽ sống chung với những người không cùng màu da, không cùng tiếng nói… tôi không thể tưởng tượng rồi sẽ ra sao nữa.
Duyên chắc cũng mang tâm trạng rối bời, nàng cũng ủ rũ không kém, từ khi cất bước ra khỏi nhà tới giờ không nghe nói năng. Xe đã qua khỏi quận lỵ Lái Thiêu, ngang qua lò đường Vĩnh Phú, những thửa ruộng mía ngút ngàn xanh ngăn ngắt, mùi nước chè ngào ngạt thoảng vào lòng xe, một tấm bảng to dựng bên đường để làm ranh giới Bình Dương với Gia Định.
Bốn chữ sơn xanh đậm nét “Hẹn ngày tái ngộ” đập mạnh vào mắt, khiến tôi bàng hoàng.
Duyên nghiêng tai qua nói thiệt nhỏ:
– Vĩnh biệt Bình Dương phải không anh?
Bình Dương bây giờ như một cố nhơn sắp rời xa trong mắt nhưng không phải trong lòng, làm sao có thể dễ dàng phai lạt được, dầu ở chốn nghìn trùng vời vợi.
Chờ trông quê cũ nao nao
Mặc cho tim lụn dầu hao cũng chờ.
Tôi gượng gạo trả lời giọng yếu hẳn đi:
– Không phải đâu em, anh hy vọng chỉ là tạm biệt.

Chương 3
BẠC LIÊU, NHỮNG NGÀY CHỜ ĐỢI
Tôi cầm tấm ny lông mỏng giũ nhè nhẹ cho sạch bụi đất, xong rồi trải thẳng ra trên nền gạch phẳng phiu. Nó vừa được làm giường ngủ, vừa làm bàn ăn, vừa là chỗ viết thơ, chỗ ngồi chơi chuyện vãn với bạn bè… Giang sơn của vợ chồng tôi đó được tạm chiếm lúc cả đám người vượt biên bán chánh thức ùa vào căn nhà số 218B đường Hòa Bình ở thị xã Bạc Liêu. Cái thị xã nổi tiếng với câu ca dao:
Bạc Liêu nước chảy lờ đờ
Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.
Đó là một căn phố trệt thấp lè tè cũ kỹ, dây điện đứt giăng tứ tung. Không bàn, không ghế, không tủ giường, đứng từ trước ngó thẳng ra sau là một gian phòng trống bóc, chỉ trơ ra hai bức tường vôi vàng nhạt bụi bặm. Chỉ có một đống rác lù lù ở giữa phòng. Trời đã xế chiều, mặt trời đỏ bầm đã nghiêng hẳn về một bên, nắng vàng nhạt chỉ còn thoi thóp ở đọt cây sua đũa bên kia đường. Phải thu xếp lẹ mới có chỗ ngả lưng tối nay. Ai nấy đều mệt nhừ sau một ngày di chuyển từ Sài Gòn xuống, vậy mà cũng phải xăn tay vào dọn dẹp, lau chùi cho sạch sẽ. Cũng may vòi nước máy còn sử dụng được. Phía sau nhà tắm có một hồ nước, cũng đủ dùng cho cả đám người lôi thôi lếch thếch, chợ không ra chợ mà quê chẳng giống quê, hằng ngày tắm rửa giặt giũ. Căn phòng được chia ra làm nhiều phần. Mỗi phần một gia đình, cứ tùy tiện chiếm cứ, lấy tấm ny lông hoặc vải màn làm chuẩn người nhiều hay ít, diện tích phần đất nhỏ hay to. Tấm ny lông in sọc vuông đỏ của tôi bề dài gấp đôi bề ngang so đi so lại vừa sát mí năm tấm gạch bông. Căn nhà từ lâu hoang vắng im lìm bỗng dưng chiều nay náo nhiệt ồn ào hẳn lên. Tiếng người lớn nói chuyện lao xao, tiếng con nít chạy giỡn, la khóc đòi ăn, tạo thành một hoạt cảnh rộn ràng. Duyên đã lanh tay tìm được ở sau bếp một cái nồi nhôm cũ đen thui, đem chùi rửa sạch nấu cho Bi chai sữa. Còn tôi với nàng thì mỗi đứa một khúc bánh mì có kẹp vài miếng thịt mỏng đã mua sẵn từ ban trưa, khi xe chạy ngang bến bắc Cần Thơ. Rải rác xung quanh ai nấy cũng đang dùng bữa chiều. Mặt trời đã tắt hẳn, đêm tối sụp xuống quá nhanh. Đàn muỗi đói ở các vùng sình lầy quanh vùng bay vi vu hằng triệu triệu con tấn công tới tấp đám người mới tới. Trời ơi, sao cái đất gì mà muỗi nhiều quá! Hèn chi mà có câu:
Xứ đâu như xứ Canh Đền
Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh như bánh canh.
Chắc cái vùng nổi tiếng Canh Đền cũng ở gần đâu đây nên Bạc Liêu muỗi nhiều quá sức tưởng tượng. Mỗi khi muốn nói chuyện phải lấy tay che miệng nếu không thì có một hai con bay tuốt vào trong đóc giọng, khạc chẳng ra mà nuốt chẳng vào. Cả đám không ai ngồi yên được phải quơ tay quơ chưn mà đập bồm bộp. Có người nhanh trí sai đám con nít ra ngoài đi kiếm xơ dừa, vỏ quít, vỏ cam, vải vụn, xác mía làm thành một đống un lớn ở trước cửa ra vô. Khói bay cay xè mặt mũi, đàn muỗi bay dạt ra xa. Người nào người nấy nước mắt nước mũi dầm dề, tuy vậy vẫn còn dễ chịu hơn muỗi chích. Ai đó không biết đã mò ra được một cây đèn dầu, cái ống khói đen thui, ngọn lửa đỏ tù mù, mùi dầu hăng hắc. Cây đèn được để trên sàn gạch giữa phòng, khi có người đi qua đi lại, nó hắt cái bóng lên tường lung linh chập chờn ma quái. Trong bóng đêm chập choạng, một giọng nói thiệt lớn ồm ồm:
– Cái xứ Bạc Liêu nầy thiệt tình, muỗi con nào con nấy lớn như con gà mái.
A, cái anh chàng trọng tuổi có ‘nhà’ ở kế tôi, đang ngồi dựa vách đập muỗi. Tấm ny lông của anh ta lớn nhứt phòng. Có lẽ vì bầu đoàn thê tử của ‘chàng’ quá đông. Một vợ năm con mà toàn là con gái. Cả đám ríu rít ồn ào như đàn ong vỡ tổ. Anh tuy đã con đùm con đề nhưng vẫn còn chải chuốt. Tóc chải láng bóng, cổ đeo lủng lẳng mặt mề đay vàng nặng cả lượng, tay đeo đồng hồ vàng, nhẫn nạm hột. Tôi xề lại ngồi kế bên làm quen:
– Đâu có anh, nó chỉ lớn bằng con ruồi ở Sài Gòn thôi mà!
Anh ta cười, tôi thấy cái lưng hơi khòm một bên.
– Bằng con ruồi thì cũng dư sức khiêng hết đám tụi mình tối nay mùng đâu mà ngủ. Bồ có đem theo mùng không?
– Không có mới chết chớ. Hồi đóng tiền Hủ Tiếu dặn kỹ là đừng có đem theo lưới theo mùng, xui lắm. Đi biển kỵ nhứt là vướng lưới. Mình đâm nghe lời bây giờ mới thấy ngu.
– Vậy chút xíu nữa mình kêu ‘giả’ bắt kiếm mùng cho cả đám ngủ, chớ làm sao chịu cho nổi tối nay, con nít bịnh hết. Một mình tôi tới năm đứa lận!
– Ừ, ừ, chắc phải vậy. Mà anh ở Sài Gòn miệt nào?
– Tôi ở Trần Hưng Đạo, chuyên bán máy cày. Có bao giờ đi mua máy móc gì ở miệt đó không?
– Tôi làm thầy giáo ở Bình Dương mà mua máy cày làm cái gì. Nhưng biết vùng đó rành lắm. Ông ngoại Bi cũng ở miệt nầy. Vậy anh cũng là chỗ quen biết lối xóm.
Hồi tôi mới làm quen với Duyên, dãy phố đó còn nhớ như in. Bắt đầu từ rạp Nguyễn Văn Hảo góc Bùi Viện chạy vô tới khu Phát Diệm Chợ Quán, hai bên bán toàn máy móc, phụ tùng xe cộ… Lúc đó hai đứa thường rủ nhau đi ăn hủ tiếu Mỹ Tho ở ngã tư Quốc Tế. Nhờ đó mà thấy tận mắt nhiều nghệ sĩ cải lương nổi tiếng như Thanh Nga, Thành Được, Bạch Tuyết, Hùng Cường, v.v… bằng xương, bằng thịt rõ ràng.
Anh tư Trần Hưng Đạo kề sát tai tôi hỏi nhỏ:
– Bồ đóng cho Hủ Tiếu mấy cây vậy?
– Tôi ở tuốt trên tỉnh, có biết gì đâu. Nhờ mấy đứa em liên lạc dọ hỏi mới biết chuyến đi nầy. ‘Giả’ đòi người lớn mỗi người mười cây, con nít phân nửa giá còn dưới sáu tuổi thì một cây. Còn anh bao nhiêu?
– Thì tôi cũng y như vậy. Tụi mình may đó nghe chớ tháng trước mấy chuyến tàu sắt như Hải Hồng mỗi người phải đóng từ mười lăm đến hai chục cây lận. Bồ biết không tụi cơ quan Hoa Vận nó tính theo đầu người. Mỗi người nó lấy năm cây, còn lại năm cây là phần của Hủ Tiếu dùng để mua ghe mua tàu, dầu mỡ, máy móc, thực phẩm, rồi còn phải hối lộ cho Công an đủ thứ…
– Anh mua giấy tờ hết thảy bao nhiêu?
Anh chàng cười khà khà, cũng cái giọng ồm ồm:
– Tui là Tàu lai mà, cần gì phải giả. Giấy tờ ghi rõ tên họ đàng hoàng. Tôi họ La. Ba người Tàu, má người Việt!
– Ừ, ừ, anh hên quá. Tôi phải mua đủ thứ hết.
Nguyên lúc chuẩn bị đăng ký chuyến đi nầy, tôi phải mua một số giấy tờ giả để làm người Hoa. Một tờ hộ khẩu giá một ngàn đồng, mỗi thẻ cử tri một trăm hai chục, tờ khai sanh cho Bi giá sáu chục. Rồi phải chụp hình cho giống người Hoa nữa. Lương một giáo viên cấp ba hiện thời là sáu chục đồng một tháng. Nhà nước Cộng sản muốn đuổi người Hoa ra khỏi xứ sau những vụ xích mích ở biên giới phía Bắc nên cho tổ chức những chuyến vượt biên. Gọi là bán chính thức vì cho phép trong vòng bí mật mà thôi, trên danh nghĩa vẫn là những chuyến đi trốn. Những người đăng ký phải là người Hoa có giấy tờ tên tuổi hẳn hòi. Lúc nầy chưa cấp thẻ căn cước theo chế độ mới nên người dân chỉ cần có thẻ cử tri và tờ hộ khẩu là đủ. Mấy giấy nầy khi mua đều được để trống, người mua tự ý điền vô tên gì cũng được, chỉ có phần dưới đóng dấu son đỏ và chữ ký sẵn của phường quận xác nhận đàng hoàng. Khi đưa những tờ giấy cho tôi, Tuyết đã nói như vầy:
– Anh tìm cái tên nào cho thiệt hên. Chuyến đi nầy quan trọng lắm đó. Bút sa là gà chết à nghen.
Lan, đứa em út nói nghiêm trang:
– Không phải một con đâu mà là một bầy!
Trời đất, tụi nhỏ nầy ăn nói ẩu tả quá. Sắp đi tới nơi rồi mà nghĩ chuyện tầm bậy không hà! Tuy nhiên tôi cũng đắn đo. Mấy em có lý khi dè dặt chuyện đặt tên cho từng đứa. Nội anh em ruột, tất cả là sáu đứa chưa kể chồng vợ và con cái dắt theo. Một bầy gà có gà mái, gà trống và gà con. Tôi là con gà trống đầu đàn. Tuy mấy em đều đã lớn khôn nhưng rủi có bề gì… tôi không dám nghĩ đến. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi tự đặt tên cho mình. Cầm tờ giấy tôi trầm ngâm hằng giờ. Chuyến đi nầy đánh đổi bằng cả sự nghiệp, cả mạng sống… Suy nghĩ hồi lâu, tôi nói:
– Anh chọn tên là Trần Nguyên, ba mươi bảy tuổi.
Duyên nóng ruột hối tôi giải nghĩa:
– Chữ Nguyên có nghĩa là đứng đầu. Anh là chủ hộ mà, hơn nữa còn có nghĩa là còn nguyên, trọn vẹn an lành, chuyện vượt biển làm sao mà lựa chọn, chỉ còn biết cầu Trời khẩn Phật cho may mắn bình yên mà thôi!
Duyên nghe chừng thích chí:
– Chọn dùm cho em đi. Em mong sao cho chuyến đi gia đình mình được vuông tròn, tới bờ tới bến yên vui.
Đang tìm kiếm đắn đo, nghe nàng nói đến hai chữ “vuông tròn” tôi mừng rỡ chộp lấy:
– Rồi, được rồi, em tên là Từ Phương Viên. Tên Bi thì dễ rồi, để biên vô khai sinh nó tên Trần Tiến Đạt. Tiến là đi tới trước, tới nơi chớ không phải ra tới bến rồi dội trở về như anh Hai Tửng. Đạt là thành công. Em tên là Phương Viên có nghĩa là vuông tròn.
Từ đó, khi nào rảnh rỗi tôi thường lẩm nhẩm trong đầu -mình tên Trần Nguyên, Trần Nguyên, Trần Nguyên, đừng có quên, quên là hư bột hư đường. Lâu lâu tôi nhắc chừng Duyên -em tên là Từ Phương Viên, vợ chồng mình bán đồ nhựa nồi niêu soong chảo ở đường Lương Nhữ Học số 86, rán nhớ nghe.
Giọng tư Trần Hưng Đạo vẫn đều đều bên tai:
– Không biết bồ đi lần nầy là lần thứ mấy, chớ tôi là lần thứ ba. Hai lần trước bị gạt mất cũng bộn, may là không bị bắt, xuống dưới Long Thành lội sình thấy bà, bị Công an rượt chạy vắt giò lên cổ.
– Vậy là anh cũng đầy kinh nghiệm chiến trường rồi. Tôi mới đi lần đầu. Hồi sớm mới ra bến xe Hậu Giang, mua vé chợ đen hai mươi đồng để xuống đây. Vừa ngồi trên xe vừa run. Cũng may chuyến xe tôi đi toàn là dân bị chở đi xây dựng kinh tế mới, có treo cờ với biểu ngữ hai bên hông xe, tới trạm kiểm soát nó cho đi luôn.
– Từ Sài Gòn xuống đây thì còn sợ. Chớ vô địa phận tỉnh Bạc Liêu rồi thì khỏi lo. Công an Bạc Liêu có cấp cho mỗi nhà trọ, như nhà mình ở đây một giấy phép được cư ngụ tạm để vượt biên theo ghe BL 1648, yêu cầu các cấp chánh quyền địa dành mọi sự dễ dàng, cũng như kiểm soát. Rồi anh tiếp:
– Cả khu nầy là nhà của tư sản hoặc của sĩ quan đi học tập, bị tịch thâu để trống. Tụi nó lấy cho mình ở tạm vài ngày để đi.
Nghe anh nói tôi cảm thấy phấn khởi náo nức. Hồi trưa khi vừa mới xuống tới bến xe Bạc Liêu, việc đầu tiên là tôi đi thẳng ra bờ sông lại ngay chỗ bến ghe để tìm chiếc BL 1648. Đây rồi, nó đang đậu cặp bến, cái be ghe cao vượt hơn bờ đá có trên hai thước:… Nó lớn quá. Đây là lần đầu tiên tôi để ý nhìn kỹ một chiếc ghe đi biển. Nó khác ghe đi sông ở cái mũi nhọn hình mũi tên cao vút lên, nhọn hoắt chớ không bầu. Phía sau lái thấp chũng xuống đít bằng. Một cái phòng lái hình vuông vức ở bên trong. Phía trước có trồng một cây trụ cao hình chữ thập để định hướng. Thành ghe được đóng bằng ván sao dầy cỡ bốn, năm phân tây, dưới lườn có bọc lưới sắt và tô xi măng để khỏi bị hà ăn hoặc nước mặn làm hư mục. Có nhiều vỏ xe hơi cũ treo cặp hai bên hông ghe. Sợi dây đỏi to bằng bắp tay nối liền ghe với chiếc cọc sắt thiệt lớn đóng chắc chắn ở trên bờ đá. Các bạn ghe làm việc lăng xăng. Họ đi lại trên tấm ván đầy nhún nhẩy đong đưa bắt từ bờ xuống be ghe coi nhịp nhàng.
Chiếc ghe của tôi đó. Tới năm tây tháng Giêng nầy nó sẽ chở tôi cùng gia đình, bắt đầu cuộc hành trình vượt đại dương trốn chạy cái thiên đường Cộng sản. Tôi từ nhỏ đến lớn sống ở vùng đất đồi đá khô cằn, mắt thường nhìn thấy những chiếc tam bản nhỏ xíu len lỏi trong các sông rạch nên bây giờ thấy được một chiếc ghe đi biển, lòng nôn nao phấn khởi lạ thường. Ghe lớn như thế nầy; ván dầy như thế nầy thì sợ gì sóng to gió lớn, sợ gì đại dương bao la. Tôi tự nhủ trong lòng -không sợ, không có gì phải sợ hết. Biển cả thì cũng đã biết qua, chắc cũng y như biển Vũng Tàu, Nha Trang, Rạch Giá, Phú Quốc. Nhưng có điều mấy biển đó tôi chỉ tắm loay hoay ở trong bờ. Còn từ Sài Gòn ra Phú Quốc thì đi bằng máy bay! Thiệt tình, có sợ hay không tôi không biết nữa. Tất cả mọi việc hên xui, thôi đành giao hết cho… ông Trời!
Tối đó nhờ có anh tư Trần Hưng Đạo cằn nhằn cẳn nhẳn, Hủ Tiếu chạy đôn chạy đáo ở đâu không biết kiếm được một cái mùng nhà binh thiệt lớn. Đem giăng lên nó trùm hết cả căn phòng rộng rinh. Đã ơi là đã! Cả đám mừng rỡ, chun vô ngủ, đếm được cả thảy vừa người lớn vừa con nít, hai mươi ba người nằm sắp lớp y như đi cắm trại ngủ chung tập thể. Cái đèn cũng còn để y nguyên giữa mùng. Cái mùng cũ xì đen thui. Tôi nằm ở dưới rán giương mắt nhìn vào những lằn may, những nếp gấp trên nóc để coi có rệp bò không, nhìn hoài mà không thấy. Nhưng ở đời, nhiều lúc phải hiểu ngầm rằng không thấy không có nghĩa là không có. Tối tối đi ngủ, đâu có ai mang theo kiếng làm chi, cái gì cũng thấy mờ mờ ảo ảo, con rệp lại nhỏ xíu! Nhưng dầu sao với cái mùng nầy, có cũng còn hơn không!
Ai nấy mệt mỏi cả ngày, mới đặt lưng chừng năm ba phút sau người nào người nấy ngủ mê man như chết. Tiếng anh tư Trần Hưng Đạo ngáy khò khò, tiếng thằng Dân thủy thủ ú ớ. Tôi mơ màng thấy chiếc BL 1648 lướt sóng phăng phăng, tiếng máy nổ đều đều dòn dã, cái mũi nhọn lao tới trước nhanh như mũi tên bắn. Phía sau lái, sóng sủi bọt cuồn cuộn cái đuôi trắng xóa kéo dài lê thê. Trên trời là mây xanh trong vắt, rải rác có những đám mây trắng bay lãng đãng như bông gòn. Từng đợt sóng biển vỗ êm ái nhịp nhàng hai bên hông ghe. Trên đầu nhiều cánh hải âu bay lượn. Nước biển trong xanh nhấp nhô dưới ánh mặt trời chói lọi miền nhiệt đới. Lòng tôi cũng như lòng biển bao la…
°
Trời đã xế chiều mà không khí vẫn còn hâm hấp nóng. Đám con nít sau một hồi đùa giỡn om sòm đã rủ nhau đi mua xá xị, nước cam ở cửa hàng ăn uống quốc doanh kế bên Ty Nông Nghiệp. Còn lại trong phòng chỉ còn có tôi với thằng Dân ‘gì đó’. Cái thằng ốm nhom, ốm nhách lại ưa mặc áo thun ba lỗ, phơi cái ngực mỏng te, tối ngày cứ nằm dài đọc ba cuốn sách hoạt hoạ xanh xanh đỏ đỏ của Hồng Kông. Mỗi lần đọc được một đoạn nào có vẻ thích thú, anh ta ôm bụng cười lăn cười lộn, chưn chẳng cong queo, nhiều lúc tôi thoáng thấy cái răng bịt vàng bên trong. Thiệt đúng là có duyên nhờ mấy cái răng vàng lóng lánh.
Thấy anh đẹp nói đẹp cười
Đẹp người đẹp nếp lại tươi răng vàng.
Trong chuyến đi nầy có hai anh bạn tên Dân, một anh mập mà lùn, đen thui. Một anh ốm nhom, cao nhồng, cũng đen thui! Hồi mới quen, tôi biết cả hai cùng tên nhưng không biết làm sao phân biệt. Lần hồi rồi cũng xong. Cái anh mập mà lùn làm ‘bạn’ ghe, tụi tôi kêu là Dân ‘thủy thủ’ còn cái anh ốm nhom, cao nhồng, người Tàu Chợ Lớn, mỗi lần nói chuyện, bất luận câu nào, ý nào, anh ta cũng chêm thêm hai tiếng ‘gì đó’ ở cuối. Thôi vậy cũng dễ, cả đám vượt biên trong nhà bèn đặt luôn Dân ‘gì đó’ cho tiện.
Dân ‘gì đó’ chừng độ mười tám, mười chín là nhiều, mới vừa học hết sơ trung ở trường Phước Đức thì Sài Gòn đổi chủ. Anh ta nghỉ học đi làm công cho Hủ Tiếu ở đường Minh Phụng. Hủ Tiếu bị liệt vào hàng tư sản, tiệm bị đổi thành cửa hàng ăn uống quốc doanh, bèn liều mạng mua ghe mua tàu tổ chức vượt biên. Khi chuẩn bị sắp xếp để đi có hứa cho nó với thằng Kiệt, đứa em ruột mới mười sáu tuổi theo, với điều kiện khi nào tới Mỹ thì trả tiền sau bằng đô la. Ba má hai đứa nghèo nên mừng lắm chịu liền. Tôi thấy trong cái xách tay nó gối đầu có vài bộ quần áo với mấy cuốn sách hình cũ xì te tua, ngoài ra không còn gì hết. Cái thằng, thiệt tình, tôi đang rầu thúi ruột mà sao nó vẫn tỉnh queo. Đã trên mười ngày ăn chực nằm chờ ở cái đất Bạc Liêu nhiều muỗi nầy, chiếc BL 1648 vẫn nằm chình ình trên bến. Mỗi trưa đi ra quán cơm, tôi nhìn nó rập rình trên làn nước đục ngầu phù sa mà đâm mệt ngang. Phải chờ tới bao lâu nữa mới có lịnh cho đi. Mười mấy ngày chờ đợi rồi chớ ít oi gì sao. Hết đứng lại ngồi, nhiều lúc vịn vô song cửa ngó hàng giờ đám rau muống xanh rờn dưới mương cùng hàng cây sua đũa với những giàn phơi mì sợi giăng giăng như lưới đánh cá bên kia đường, lòng tôi nóng như lửa đốt. Vậy mà Dân ‘gì đó’ vẫn thản nhiên nằm coi sách hình thỉnh thoảng còn cười lăn cười lộn. Tôi lại gần nó, ngồi bệt xuống kế bên, hai tay ôm lấy đầu gối:
– Dân nè, em đọc cái gì mà vui quá vậy, nói cho anh nghe với. Anh buồn quá, không biết chừng nào ghe mình mới được đi. Cứ tưởng xuống tới ngày trước là ngày sau đi liền, nhè đâu…
– Anh lo làm chi cho mệt vậy. Khi nào nó đi thì nó đi, mà nó hổng đi là hổng đi. Cái chuyện gì đó có Hủ Tiếu với Nhựt Bổn lo rồi mà!
Tôi rầu rĩ thở than:
– Hổng lo sao được. Nếu ghe mà đi không được thì sao mình có thể trở về an ổn. Ở tỉnh anh khó lắm! Em ở Chợ Lớn thì dễ, ít ai để ý. Tiền bạc mình giao cho người ta hết trơn rồi, bây giờ đòi ai!
Nó ngồi nhỏm dậy, nói như an ủi tôi:
– Em nghe Hủ Tiếu nói thế nào cũng được đi mà! Đừng có lo, để em kể chuyện gì đó em đọc trong cuốn sách nầy, nghe cho đỡ buồn.
– Ừa, ừa, kể đi.
Nó ngồi dựa lưng vô tường, thẳng chưn ra để cuốn sách úp trên đầu gối, bắt đầu kể. Tôi thấy cái lưng sao mà dài sọc, chắc thằng nầy làm biếng dữ lắm.
– Hồi xưa ở bên Tàu, có một ông nhà giàu gì đó mướn một ông thầy giáo lại nhà để dạy học cho mấy đứa con nhỏ. Ông nhà giàu hỏi ông thầy giáo muốn ăn cái gì đó thì nói để ổng kêu vợ ổng nấu cho ăn. Ông thầy giáo vì tánh ưa mắc cỡ, hổng lẽ đòi ăn món ngon vật lạ gì đó nên buột miệng nói là thích ăn tàu hủ. Ông chủ cứ cho tôi ăn tàu hủ chiên đi, tôi coi tàu hủ như là mạng sống gì đó! Ông chủ nhà hà tiện, nghe qua mừng quá, ngày nào cũng cho ông thầy giáo ăn tàu hủ gì đó hoài.
Nghe tới đó tôi buột miệng la lên:
– Chết cha ông thầy rồi, ăn hoài một thứ, ngán chết làm sao chịu nổi!
– Ổng lỡ nói rồi, hổng lẽ nói lại, thầy giáo mà! Nói bậy, nói bạ gì đó thì cũng phải rán chịu.
Thành ra một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, ổng cứ phải ăn tàu hủ gì đó hoài hoài, thèm thịt lắm mà không dám nói. Gặp bữa đó tới Tết, ông chủ nhà dọn một mâm cơm gì đó đầy nhóc thịt cá. Ông thầy giáo mừng quá, gắp lia gắp lịa, ăn ngồm ngoàm không kịp thở. Ông chủ nhà thấy cười mới hỏi: -Ủa, ông thầy nói coi tàu hủ như là mạng sống, sao bữa nay lại không ăn? Ông thầy giáo trả lời: -Ừa, ừa, sao kỳ ghê, mỗi lần tôi thấy thịt cá thì quên mất mạng sống gì đó liền!
Kể xong nó cười hăng hắc, nắm tay tôi miệng hỏi:
– Hay không, hay không?
Tôi cười khoái chí, miệng nói theo:
– Thì anh cũng vậy, hễ thấy thịt cá là quên mạng sống liền!
Hai anh em xúm nhau mà cười, tôi giành lấy cuốn sách, thấy người họa sĩ vẽ thiệt khéo, ông thầy đồ mặc áo dài quấn khăn, cái miệng há hốc, cặp mắt tròn vo nhìn trân trân vô mâm cơm. Trong mâm thịt cá ê hề, khói bốc nghi ngút. Coi tới coi lui, tôi ngồi thừ người ra, một ý nghĩ mới lạ xuất hiện trong đầu. Câu chuyện thiệt tầm thường, ai cũng có thể nghĩ ra vậy mà ý lại thâm trầm hết sức.
Từ lâu tôi thường để ý con người dễ trở thành anh hùng trong gian khổ, nghèo hèn, chớ trong lúc phú quí giàu sang thì khó lắm. Bất cứ điều gì hễ có danh lợi xen vô thì dầu tốt cũng thành xấu. Như người Cộng sản họ có lý thuyết và chủ nghĩa để tôn thờ, họ xả thân chết sống vì lý tưởng Cộng sản, chiến đấu gian lao khổ cực, khắc phục muôn vàn khó khăn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nước không đủ uống, ánh sáng không đủ để nhìn, khí trời không đủ để thở những mong mai sau khi thành công đất nước độc lập thanh bình, toàn dân sẽ được hạnh phúc ấm no. Sách vở tiểu thuyết nào của họ cũng mô tả như vậy. Nhưng thực tế thì khác xa. Khi chiến tranh chấm dứt, dân chưa kịp thở ra nhẹ nhỏm mừng vui, thì họ như một bầy muỗi đói lẹ tay, chụp giựt bất kể tiếng oán than của dân lành ngút tận trời xanh. Nào tiền của, nào nhà đất, nào ngựa xe, nào gái đẹp, cán bộ đảng viên xây nhà, cướp xe, cưới vợ bé, bóc lột từ cây đinh, sợi chỉ, giàu sang xa xỉ trong sự rên xiết khóc than của toàn dân. Như ông thầy giáo trong chuyện miếng tàu hủ — khi nhìn thấy bờ xôi ruộng mật béo bở của miền Nam, người Cộng sản quên mất lý tưởng họ tôn thờ rồi!
Mặt trời đã xuống thấp trên đầu ngọn cây xanh xanh ở tận chơn trời, ánh nắng thoi thóp chiếu thẳng vào khung cửa sổ hẹp những tia vàng nhạt le lói cuối ngày những hạt bụi nhỏ li ti bay ngang bay dọc. Có tiếng người ồn ào và tiếng bước chân lao xao trước cửa. Duyên, chị Điệp, chị Kiều và một đám con nít ùa vào như đám chợ:
– Hai anh em nói chuyện gì mà cười ngả nghiêng ngả ngửa vậy?
– Dân kể cho anh nghe chuyện ông thầy giáo ăn tàu hủ chiên. Hay lắm. Phải chi mấy chị em về sớm chút nữa thì được nghe rồi!
Rồi tôi hỏi tiếp:
– Sao em, có gặp Hủ Tiếu hay Nhựt Bổn không? Có biết chừng nào ghe mình được phép?
Duyên chưa kịp trả lời thì chị Điệp đã vọt miệng:
– Yên chí đi chú ơi, thế nào mình cũng đi được. Chắc lắm, qua đầu năm mới là mình đi đó. Bữa nay là hai mươi tháng Chạp, như vậy là chị em mình chờ chừng hai tuần nữa là lâu lắm!
Nghe chị nói tôi hơi mừng. Cả mười ngày nay chờ đợi mệt mỏi, tôi khá tuyệt vọng. Khi giã từ Bình Dương cứ tưởng xuống tới Bạc Liêu là lên ghe nhổ sào. Nhè đâu cứ kéo dài ngày nầy qua ngày kia, tôi cứ đi ra đi vô, chiếc ghe vẫn nằm ỳ trên bến. Hủ Tiếu vẫn hẹn lần hẹn lữa, nói quanh nói co. Tiền bạc đem theo để ăn đi đường đã cạn dần. Mấy bữa trước phải bán bớt mấy bộ quần áo, cái đồng hồ Seiko, rồi cắn răng mà bán tới nhẫn cưới… để chờ đợi! Phải làm sao nữa đây, nếu không đi được… tôi không can đảm nghĩ tới nữa.
– Chị được tin ở đâu vậy? Việt Cộng với Trung cộng hết đánh với nhau rồi hả? Hà Nội sắp cấp giấy phép cho đi tiếp tục phải không?
Chị Điệp cười cười:
– Mấy cái chuyện đó chị đâu có biết. Chị với Duyên vừa đi xin xăm ở chùa Ông Bổn. Mấy người ở đây họ nói xăm ở chùa nầy linh lắm, thành ra hai chị em lặn lội rán xin cho được. May quá chú ơi, xăm tốt lắm.
– Trời đất! Tưởng là nghe được tin gì hấp dẫn. Mà xăm nói cái gì ở trỏng vậy chị?
Mấy bà ngồi bệt xuống sàn gạch, vây quanh tôi và Dân ‘gì đó’ Bà nào bà nấy mặt mày đỏ lơ đỏ lưỡng vì đi ngoài nắng quá lâu. Tháng nầy Bạc Liêu nắng như đổ lửa. Nắng nóng mùa Tết được gió biển thổi rào rào, nhà cửa, đường xá, ruộng đồng như muốn bốc ra thành hơi. Chị Điệp tay cầm lấy mấy mẫu giấy xăm đỏ chìa trước mặt tôi:
– Chú thấy không, mấy cây xăm cây nào cũng ‘trung’ với ‘thượng’ hết nè. Ông Từ bàn xăm nói tốt lắm. Sự tích ông Tô Võ đi sứ qua đất Hung Nô rồi đối đáp làm sao đó hổng biết, bị đày đi Bắc tái chăn dê. Mà Bắc tái là gì vậy chú?
– Ờ, ờ, Bắc tái là quan ải ở phương Bắc của xứ Hung Nô. Vậy là lạnh lắm chị Điệp ơi. Chỗ đó tuyết trắng quanh năm, đồng cỏ vàng khè, cây cối mọc không được, khổ lắm. Tôi định đi Úc mà, qua bển xin miếng đất làm ruộng. Sao xăm lại nói chị em mình đi miền Bắc?
– Thôi kẹ nó chú. Lạnh nóng gì cũng được hết. Miễn có đi là chị mừng rồi.
Nói xong chị cười tươi rói. Hai má lúm đồng tiền. Chị Điệp là chị dâu thứ ba của tôi. Từ ngày anh ba tôi bị bắt rồi bị đưa đi Bắc lao động ở rừng sâu, chị lo lắng trong ngoài, nuôi nấng hai con nhỏ. Trung năm nay lên bảy và Dung mới lên năm. Hai đứa nó giống hịch anh tôi lúc còn nhỏ, nên mỗi lần nhìn thấy tụi nó là nhớ thương anh. Có lần anh tìm cách nhắn về nhà bảo chị phải tìm đủ mọi cách, dứt khoát đem hai con ra đi, đừng bận bịu chờ chồng nữa, đời anh kể như xong rồi. Anh đã viết một câu cho vợ, tôi nhớ hoài không quên: “…anh đã quyết định sai lầm, nên phải đánh đổi cả cuộc đời mình, em không nên chần chờ nữa, phải tìm đường lo tương lai cho hai con là anh yên lòng…”
Ngày làm giấy tờ giả, chị nhờ tôi chọn dùm một cái tên cho giống người Tàu, suy nghĩ hồi lâu tôi chọn là Trần Sùng Lìn. Chị thắc mắc cho là tên đọc lên nghe hơi xấu. Tôi phải giải nghĩa cho chị hiểu, đây là phiên âm, giọng Quảng Đông của chữ Trần Thuần Liên có nghĩa là đóa hoa sen tinh khiết vẹn toàn. Chị nghe xong chịu quá biên vô giấy liền. Từ đó cả ghe gọi chị là bà Sùng Lìn.
Duyên cầm lá xăm lật tới lật lui rồi chép miệng:
– Mà ông thầy bàn là mình ở đó tới mười chín năm mới được về xứ. Ông Tô Võ đó khi về cầm cái cán cờ không, lá cờ lâu quá mục nát hết trơn.
Nghe vợ nói tôi thấy buồn cười:
– Mình đi còn chưa được, ngồi chờ hoài muốn chết luôn hơi đâu mà lo tới chuyện mười chín, hai chục năm sau. Bây giờ chỉ cần biết bao giờ đi thôi.
– Thì trong xăm nói rõ rồi. Ông Tô Võ không chăn bò chăn heo mà là chăn dê. Năm con dê là năm Mùi. Vậy là qua năm tới mình đi được, còn chừng mười ngày nữa là hết năm Ngọ, ăn Tết xong mình chuẩn bị là vừa.
Nói xong nàng ngồi thẳng người ra, xuôi hai chưn, tay cầm nón lá quạt phành phạch. Mấy chị em đều xin được xăm tốt, người nào người nấy hy vọng tràn trề. Tôi vẫn lộ vẻ phân vân thắc mắc không tin. Bỗng nhiên Duyên nắm lấy tay tôi lắc mạnh:
– Nè, anh có nhớ cụ Diễn nói về tương lai của anh hồi trước không?
Nghe vợ nhắc tới, tôi hơi giựt mình. Cụ Diễn, cụ Diễn tôi nhớ ra rồi. Ông cụ người Bắc, mắt ti hí nhỏ như sợi chỉ, áo dài nâu, khăn đóng đã bạc màu, nhà ở hẻm đường Hiền Vương trên một căn gác nhỏ, đã coi giúp tôi một lần lâu lắm, lúc đó tôi độ ba mươi, ba mươi mốt tuổi. Thời gian cũng chưa lâu nhưng nhiều biến động đất nước quá lớn cơ hồ tôi quên mất. Do một sự tình cờ tôi được một người bạn có quen với cụ, giới thiệu nhờ coi dùm tương lai. Buổi đó có chị Điệp cùng đi. Sau khi nhướng cặp mắt lèm nhèm nhìn một hồi, cụ nói từng điểm về cuộc đời tôi. Quả nhiên danh bất hư truyền. Cụ nói tới đâu, tôi rùng mình tới đó. Nhiều khi cứ nghi là anh bạn đã sơ ý nói hết về nhà cửa, gia thế nghề nghiệp của mình. Cuối cùng cụ phán một câu tôi nhớ hoài:
– Tương lai của ông hở, ông nhớ nhé. Công danh như hoa lộ, phú quí thảo đầu phô. Ông học chữ nho, chắc hiểu rõ chứ gì. Lộ là giọt sương, giọt móc đấy. Đừng bao giờ cầu công danh phú quí gì cả không được đâu. Công danh thì như giọt sương đọng trên cánh hoa, phú quí trên đầu ngọn cỏ làm sao mà bền vững được. Ông nhớ lời tôi nhé, đừng bao giờ làm quan làm quyền gì hết, cũng đừng mong làm giàu, cứ đi dạy học an nhàn là tốt. Mà chưa chắc gì ông được dạy học trọn đời đâu. Ông mà lên chức, bất cứ chức gì sẽ gặp tai họa ngay đấy. Đến năm gần bốn mươi, ông sẽ bỏ xứ, mà đi một nơi xa lắm về phương Bắc. Ông mạng kim, về phương bắc thuộc hành thủy, ông phải vất vả hơn bây giờ nhiều lắm, lúc đó ông bỏ nghề dạy học… Ông phải cố gắng… tại cái số vất vả như vậy. Có một điểm tốt là đời ông không bao giờ gặp hiểm nguy tù tội. Chuyện gì khó khăn rồi cũng vượt qua. Không phải do tài sức của ông đâu, cứ bình thản để tự nhiên rồi khó khăn nó cũng tự giải quyết hết…
Khi tôi cám ơn từ giã ra về, ông nắm chặt tay tôi dặn dò:
– Ông nhớ kỹ nhé, năm Ất Mão đừng đi đâu hết, đừng đi tàu thủy, đừng đi tàu bay, đừng ở khách sạn… nghĩa là phải hết sức cẩn thận, cẩn thận… vậy mà ông cũng không tránh được tai bay họa gởi, bị ngưng chức, bị cho nghỉ việc, lo buồn nhiều lắm! Như vậy cho đến năm Mùi, ông bắt đầu làm lại cuộc đời ở một phương xa. Lúc đó ông không còn làm thầy nữa mà là làm thợ… Ông nhớ kỹ nhé!
Lời ông cụ gần bảy, tám năm về trước, chiều nay lại văng vẳng bên tai. ông cụ già trên bảy mươi tuổi, da mặt nhăn nheo răn rúm, cái áo dài nâu đã bạc màu, cặp mắt nhỏ xíu nhìn không rõ vậy mà cụ đã thấy hết trơn tương lai của tôi. Phần nửa đầu đời cụ đã nói đúng phong phóc, còn phân nửa sau, tôi đang chờ để kiểm nghiệm.
– Chị Điệp nè, hồi đó chị có nghe cụ Diễn coi cho em. Bây giờ chị nghiệm lại mấy lời ổng nói có đúng y như lời xăm không?
Chị Điệp đương uống ly nước lạnh vội để xuống:
– Năm nay chú cũng gần bốn chục rồi, ổng nói chú bỏ xứ đi về phương bắc sinh sống. Tôi với chú đi một ghe. Mà xăm lại nói chuyện ông Tô Võ đi chăn dê ở ải Bắc. Vậy là giống nhau rồi.
Bỗng nhiên chị đập vào vai tôi một cái thiệt mạnh:
– Thôi đúng rồi chú ơi! Tôi nhớ rõ ràng lúc ổng nói đi về phương bắc đó, chú dùng toàn đồ mới — quần áo, xe cộ, nhà cửa gì cũng đổi mới. Mình đi vượt biên, mặc ba bộ đồ nầy chừng vài lần nữa là nó mục nát. Không mua đồ mới thì lấy gì mà bận, đúng quá phải không chú!
Rồi chị kết luận một cách ngon lành:
– Vậy là thế nào mình cũng đi được!
Tôi thấy chuyện ăn khớp nhau có lớp có lang. Thiệt là hợp tình hợp lý hết sức, lòng mừng rơn. Đời tôi từ lâu rồi không do tôi quyết định nữa. Tính đằng nầy nó ra đằng kia, tính làm chuyện kia nó thành chuyện nọ, lông bông dật dờ, ba chìm bảy nổi. Không tin vào số mạng thì tin ai bây giờ? Có một cái nghề dạy học, thiệt là khiêm nhường hết sức, vậy mà cũng bị cho nghỉ một cách ngang xương. Công danh như hoa lộ, phú quí thảo đầu phô. Đi dạy học mà cũng được coi là tìm công danh phú quí? Mười chữ như một ám ảnh chập chờn trước mắt. Làm gì, nghĩ gì, tôi cũng giựt mình nhớ tới nó. Công danh, phú quí trên đời nầy có ai mà không ham. Nhưng hiện mình không đủ khả năng thôi đừng thèm nghĩ đến… Cái mà tôi nghĩ đến bây giờ, chiều nay, là chiếc BL 1648 hiện vẫn còn bỏ neo, nằm dật dờ trên bến nước Bạc Liêu!
°
Nằm trong mùng rộng thinh thinh tôi nhìn ra khung cửa sổ trên đầu. Trời đã chừng khuya lắm. Trên bầu trời đầy sao, mờ mờ hàng ngàn con dơi đen đủi bay dọc bay ngang kiếm mồi. Chúng tha hồ xòe đôi cánh rộng bay lượn thảnh thơi. Muỗi ở xứ nầy thừa mứa làm sao ăn cho hết. Đâu có ai cấm cản. Chắc chắn một điều mấy ngàn con dơi kia đâu cần phải có giấy hộ khẩu, thẻ cử tri. Chúng đâu cần phải có sổ y tế, sổ mua gạo, sổ mua nhu yếu phẩm. Chúng cũng đâu có phập phòng lo sợ đêm đêm Công an gõ cửa, ngày ngày lấm lét e dè người xung quanh đầu óc căng thẳng học thuộc lòng từng dòng của tờ khai lý lịch. Ôi, cái kiếp của con người dưới cái chế độ nầy thua cả những con dơi đen thui kia! Không thua sao được, sống mà không định được tương lai của mình như thế nào, phải cầu cứu đến xăm bà, xăm ông, tin tưởng mơ mơ hồ hồ vô những lời đoán trước chuyện chưa xảy ra để mà hy vọng khắc khoải. Y như người mù không gậy sờ soạng đi trong đêm, có ai đó giúp bằng cách đốt cho một ngọn đuốc để soi đường… Cuộc đời mâu thuẫn đến khôi hài như vậy, không đáng buồn sao!

Giấc ngủ đến chập chờn. Tôi thấy mình đang ở sau nhà chăm sóc mấy cây cải bẹ xanh. Cây nào cây nấy xanh biêng biếc, lá nở tròn lớn như cây quạt. Tay cầm lấy lon nước tôi tưới nhè nhẹ hết lá nầy tới lá kia. Tưới nhiều như vậy mà sao đất vẫn khô nen, nước chảy đâu mất tiêu hết. Tôi thắc mắc tự hỏi — Sao kỳ vậy cà, lá cải bẹ xanh chớ đâu phải lá bạc hà mà nước trôi tuột đi. Mà sao nó không chảy xuống đất. Tôi tưới hoài, tưới hủy mà đất vẫn khô. Tôi ngó quanh ngó quất ra ngoài hàng rào. Có một cặp mắt trắng dã, trợn trừng nhìn tôi tưới cải. Tự dưng tim đập thình thịch. Nó đó, nó cứ theo hoài, từ ngày nầy sang ngày khác rình rập soi mói. Tôi có làm gì đâu, tôi tưới cải mà. Tôi rán nhớ coi trong mình có gì sai quấy? Tuyệt nhiên không, túi trên túi dưới không có giấy tờ gì phản động hết. Trong bóp có đủ cả thẻ cử tri, thẻ hộ khẩu, tờ khai lý lịch… nhưng mà, sao kỳ cục vậy nè, mấy tờ giấy đó không có đóng dấu với chữ ký tên. Ngay cả tên tuổi, ngày sang tháng đẻ cũng mờ nhạt. Tôi sợ quá, tay chưn quính quíu, lưỡi cứng đờ ra không nói được. Tôi cố quơ tay lên ra dấu để cho nó hiểu là lỗi không phải tại tôi, không phải tại tôi! Cái tay bữa nay sao nặng chình chịch, dở lên không nổi, cái miệng như bị khớp lại, quay hàm cứng ngắt ú ớ dãy dụa. Tai tôi nghe văng vẳng có tiếng người nói chuyện lao xao. Họ đông quá đứng lố nhố ngoài hàng rào, có người cầm đèn pin chiếu vào, ánh sáng lóe lên như lằn chớp. Tiếng người hô lớn… Tô Tỷ? Dạ có. Bành Thắng Niên? Có. Tô Phương Thoại! Có. Lâm Kiết? Có? Vương Sanh? Có. La Tống Thành? Có. Lâm Thoại Dân? Có… Tiếng gọi nghe khi xa khi gần…
– Trần Nguyên?
Không ai trả lời hết. Giọng hỏi gắt gỏng, vang lên ồm ồm:
– Ai là Trần Nguyên? Công an xét nhà kiểm tra hộ khẩu. Anh nào là Trần Nguyên?
Tôi tỉnh giấc hẳn, nằm im lắng nghe, tim đập thình thịch vì sợ, cái lưng thẳng đờ dán chặt xuống sàn gạch. Chưn cẳng ngay đơ không dám nhúc nhích. Chết rồi, Công an Bạc Liêu đang xét giấy tờ. Mình lại là người đang trốn tránh. Giọng anh Công an trở nên cộc cằn:
– Anh nào là Trần Nguyên? Sao tôi hỏi mấy lần không thấy ai trả lời?
Tôi nằm im vừa run, vừa bực mình, vừa tức. Thằng Tàu nào ngu quá, có cái tên mà không biết trả lời cho rồi, để tụi nó bực mình truy ra cả đám thì rắc rối. Trong nhà đa số là người Việt. Tim tôi đánh như trống làng. Tôi rán nín thở nằm im không dám cục cựa. Lúc đó tự nhiên bị Duyên nằm kế bên lấy tay khều mạnh vào ba sườn. Tôi giựt mình chợt nhớ ra cái tên mới đặt, quính quáng trả lời lắp bắp:
– Tôi, tôi…
Thằng nhỏ Công an sừng sộ:
– Sao tôi hỏi mấy lần anh không trả lời?
Duyên sợ tôi mê ngủ, nói năng bậy bạ, nàng vọt miệng đáp thay:
– Ổng ngủ mê man có nghe gì đâu.
Một tia đèn sáng bén như ngọn kiếm loang loáng chiếu vô mặt, tôi bị lóe mắt, đưa tay che. Cũng may mặt tôi chắc cũng giống người Tàu, nên anh ta tiếp tục điểm danh:
– Từ Phương Viên? Có. Trần Tiến Đạt? Có. Trần Sùng Lìn? Có… Tiếng hô chấm dứt, tiếng cửa đóng và tiếng bước chưn xa dần. Tôi thở một hơi dài, yên tâm nhẹ nhõm, đầu óc đủ bình tĩnh để nhớ lại mình bây giờ đã là người Tàu rồi, bán đồ nhựa ở số 86 đường Lương Nhữ Học, Chợ Lớn, có giấy tờ chứng minh rõ ràng, đầy đủ. Bên tai, tiếng vợ cằn nhằn:
– Cái ông nầy nhớ trước quên sau, không có tôi ở kế bên rồi không biết ra sao nữa.
Có tiếng chó sủa dồn dập ồn ào, dài theo con đường dẫn vào xóm nhỏ, giữa đêm trường tĩnh mịch. Đêm đã chừng khuya lắm. Tôi ngủ thiếp lại, giấc ngủ mông lung, mộng mị chắp nối toàn chuyện dữ.

Chương 4

ĐÊM GIAO THỪA XA NHÀ
Căn nhà chật chội ồn ào rộn rịp, hôm nay bỗng dưng lặng im rộng thinh thinh như cái chùa. Vợ chồng anh tư Trần Hưng Đạo đã về Sài Gòn hồi sáng. Thằng Dân ‘gì đó’ cũng vậy. Đám chị Điệp, Mai, Lan cũng bồng bế, dắt díu nhau lén về Bình Dương ăn Tết. Tụi thằng Tô Tỷ, A Son với Xám Mã Chải thì về Vĩnh Châu với má nó. Còn lại ở Bạc Liêu chỉ có vợ chồng tôi với thằng Bi. Tết Kỷ Mùi sắp đến hồi nào không hay không biết. Trong đầu bây giờ chỉ có một ý nghĩ duy nhứt. Chừng nào có lịnh cho đi. Nhiều buổi tôi ngồi hằng giờ trong quán cơm ở bờ sông nhìn chiếc… BL 1648 im lìm, lặng câm, dật dờ. Chỉ cần mở đỏi, kéo neo, nổ máy quay mũi hướng ra biển lớn, phăng phăng lướt sóng là mọi chuyện êm đẹp biết bao nhiêu. Vậy mà không được. Chờ hoài, chờ hoài.
Đã gần một tháng nay tôi mỏi mòn héo hắt bơ ngơ báo ngáo như người bịnh nặng. Nhiều khi ngồi chán, buồn chưn tôi đi loanh quanh dọc bờ sông nhìn dòng nước chảy. Nước thì chảy cuồn cuộn mà ghe thì vẫn không chịu trôi. Ngày mai nầy, tôi đã ba mươi tám, tuổi nửa đời người, buổi sáng đứng chải đầu trước kiếng thấy có vài sợi tóc bạc màu, giựt mình nhớ câu ‘Thệ giả như tư…’ Chiếc ghe vẫn nằm ỳ trên bến như dề lục bình hoa tím lá xanh mắc kẹt cột cầu tàu mục nát, trên đó có con vịt đứng co một chưn, miệng kêu cạp cạp xa vắng mỏi mòn. Tôi cũng y như con vịt, lẻ loi, ngơ ngác. Nhứt là buổi chiều nay, chiều ba mươi Tết, không cửa không nhà, không bàn thờ tổ tiên hương khói, không cha mẹ anh em, bơ vơ nơi đất lạ. Cũng may là còn có vợ con.
Trời đã sẩm tối, tôi và Duyên đi một vòng chợ Bạc Liêu để coi thiên hạ chuẩn bị đón xuân sang. Đường xá Bạc Liêu nhỏ hẹp ẩm thấp bùn sình. Cơ quan thủy lợi của tỉnh đắp đê, đắp đập thế nào không biết mà chỗ nào cũng ngập lụt lầy lội. Đèn đường không đủ sáng, tù mù bóng đen nhòe nhoẹt. Hai vợ chồng ẵm thằng Bi đi lơn tơn dọc theo đường Độc Lập rồi lần ra Trương Vĩnh Ký. Đêm giao thừa, chợ Bạc Liêu dọn dẹp sạch trơn. Các gian hàng đóng im ỉm, khóa kín vắng tanh trái ngược với cảnh ồn ào rộn rịp hằng ngày. Hai bên đường phố nhà nào nhà nấy sửa soạn quang đãng, cửa mở hé. Nhìn vô trong thấy đèn nến sáng trưng ấm áp. Thỉnh thoảng có từng tràng pháo nổ. Không khí như ấm lại. Trên đường đã có nhiều đứa con nít súng sính trong các bộ đồ mới xanh xanh, đỏ đỏ chạy giỡn tung tăng. Lẫn trong đó có nhiều chị bạn hàng trễ muộn gồng gánh kĩu kịt, tất tả quay về. Phía bên kia là chiếc cầu quay cao sừng sững ba nhịp nằm vắt ngang qua sông dài ngoằn đen đủi. Nhiều chiếc xe chạy qua, từ xa nhìn như những con kiến bò chậm chạp, ánh đèn chập chờn lóe sáng thành cầu.
Chân bước trên đường phố Bạc Liêu mà đầu óc tôi nhớ miên man về Bình Dương. Tỉnh lỵ Thủ Dầu Một đẹp hơn Bạc Liêu nhờ cất dựa lưng trên một trái đồi nhỏ. Trên đỉnh đồi là các cơ quan hành chánh với dinh thự. Xung quanh là cây cao bóng mát quanh năm. Đường dốc quanh co uốn khúc, phố xá tuy nhỏ nhưng ngăn nắp sạch sẽ hơn. Cũng vào giờ nầy, trên dốc nhà thương miệt Bưng Cải các bạn tôi có còn quay quần họp mặt chuyện trò để chờ đón giao thừa? Ở dưới con dốc Ông Cò trong căn nhà rộng mênh mông, ba má tôi có còn đủ bình tâm cúng kiếng ông bà như mấy năm trước hay là nằm chèo queo thở dài chờ đợi tin con trong nỗi sợ sệt bồn chồn. Nghĩ tới hình ảnh những người thân yêu còn ở Bình Dương lòng tôi đau nhói. Đây là đêm giao thừa đầu tiên mà tôi xa nhà. Năm nào cũng vậy dù đi làm việc xa xôi bất cứ ở đâu, Tết đến cũng tìm đủ mọi cách để về vui với cha mẹ, anh em. Như có một sợi dây vô hình ràng buộc, tôi tự cột mình, gắn liền với những người thân yêu, với tổ tiên dòng họ, quê hương làng nước. Những ngày đầu năm, nhà cửa được lau chùi sạch trơn, bàn thờ nghi ngút hương khói nhang đèn, cả nhà quây quần bên phòng khách ấm áp, cành mai vàng rực rỡ chen lẫn với những cánh glaieul đỏ như nhung. Tôi thường ngồi trước nhà chuyện vãn cùng các em học trò thân, cùng nhau ngắm các người quen đi lễ giao thừa ở chùa Bà, công viên trước nhà im vắng, không khí linh thiêng… Bây giờ thì hết rồi. Cây mai vườn nhà vẫn ra hoa như cũ?
Đình thụ bất tri nhơn khứ tận
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.
Bạc Liêu tỉnh lạ bơ vơ. Tâm trạng hoang mang trống vắng. Duyên thẫn thờ đi bên tôi không nói năng. Chắc nàng cũng đang nghĩ về mảnh vườn xanh ngăn ngắt, căn nhà xinh xắn ở Dĩ An với tất cả lòng thương nhớ. Nơi đó có quyến thuộc ruột rà. Gia đình bên nàng sau khi nhà cửa ở Sài Gòn bị tịch thâu, phải về nơi đây trú ngụ. Bỗng dưng nàng níu chặt tay tôi:
– Hay là anh đến chùa xin một cây xăm cho năm tới coi ra sao?
– Thôi em, xin rồi lại đâm lo. Ích lợi gì. Tốt thì không sao còn nếu xấu thì lại lo buồn rầu rĩ.
Trời đã im mát hẳn, thoang thoảng có vài hơi gió lành lạnh. Từ chiều cho tới giờ trong tôi tâm trạng bâng khuâng xao xuyến hoang mang chờ đợi. Tôi đang chờ đợi cái gì cũng không biết nữa. Một thoáng mơ hồ huyền hoặc. Đêm nay đêm ba mươi Tết. Lần đầu tiên tôi xa nhà, bước đầu một cuộc phiêu lưu không mong không đợi. Dĩ vãng thì đầy rối rắm, tương lai không biết ra sao. Nơi đất lạ quê người những chuỗi ngày hy vọng rồi thất vọng nối tiếp. Chưn bước lang thang trên đường phố đầy người mà lòng trống vắng mênh mông.
Trời càng về khuya, người đi trên đường càng lúc càng đông. Phần lớn là đàn bà Tàu đi lễ chùa. Tự dưng tôi bước dần theo họ. Người nào tay cũng cầm giỏ mang đầy hương nhang đèn nến, mặt mày trang trọng vui tươi, ăn mặc chỉnh tề đẹp đẽ. Đi khỏi Ty Công An thị xã một quãng khá xa tôi thấy một vùng người đông đảo quây quần. Mùi nhang khói nồng ấm vây quanh. Ngôi chùa nhỏ hiện ra trong ánh đèn, ánh nến bập bùng. Một cây đa thiệt lớn bên cạnh như một cây dù đen đủi khổng lồ chụp xuống toàn thể ngôi chùa. Từ xa nhìn vào thấy những khối màu sắc đen, đỏ, vàng, xám mờ mờ kỳ ảo, lung linh rờn rợn. Tôi rán đọc hàng chữ nho chạm nổi trên tấm bảng sơn đỏ treo bên trên trước cổng chánh. Bốn chữ “Ba Thắc cổ miếu” nét cứng cáp, màu đen nhưng quá cũ kỹ với thời gian. Đây không phải là một ngôi chùa mà là một ngôi miếu xưa của vùng đất Ba Thắc, tên cổ của vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu nằm trên bờ sông Hậu Giang.
Tuy mới vừa từ chối với vợ nhưng chưn tôi cũng bước vô trong. Giờ nầy người đi lễ đã đông. Khói nhang mờ mịt, không còn thấy được gì nữa hết, như trong một cái bếp un. Rán nhìn nhưng tôi không thấy được trên chánh điện người ta đã thờ vị thần nào? Thần của Cao Miên xưa hay của Trung Hoa mới đến lập nghiệp thời Chúa Nguyễn? Tôi không biết nhưng cũng không cần biết làm gì. Tôi chỉ biết là lòng tôi cần một nơi nương tựa, Trời, Phật, Thánh, Thần, vị nào cũng được. Miễn là làm sao tạo được cho tôi một niềm tin. Tôi quỳ xuống làm lễ khấn vái cầu nguyện cho chuyến vượt biên, tất cả được an lành. Trong ánh đèn lung linh mờ mờ khói nhang nghi ngút, tự nhiên tôi ớn lạnh toàn thân, vội quỳ mọp xuống. Duyên quỳ kế bên đưa cho một ống xăm bằng tre to bằng bắp chưn màu đen xỉn, đựng những thẻ tre dài bằng chiếc đũa dẹp lép mỏng tanh. Tôi cầm lấy ống tre run run. Có cái gì linh thiêng khiến tôi hồi hộp. Tôi liếc qua một bà già Tàu kế bên rồi bắt chước bà ta, vừa lắc vừa nguyện cầu. Cả chánh điện ngộp trong mùi nhang khói, mùi đèn nến. Tiếng xăm xóc lóc cóc rền vang trộn lẫn tiếng cầu nguyện rì rầm. Nước mắt tôi ứa ra cay xè ràn rụa. Tôi xóc mạnh hơn nữad, một cây xăm từ từ vượt lên cao rồi rớt ra ngoài. Tôi vói tay chụp lấy định đứng dậy để đi ra. Duyên níu lấy tay tôi quỳ xuống, đưa cho hai miếng cây đẽo giống hình hột xoài một bên thẳng một bên mô tròn.
– Anh xin keo đi. Rán xin cho được âm dương.
Tôi nghe theo lời, cầm hai miếng cây láng bóng đưa lên ngang đầu khấn vái xong, quăng xuống mặt chiếu. May quá một úp một ngửa.
Duyên mừng rỡ thốt lên:
– Thần thánh đã chứng minh cho mình được cây xăm nầy. Anh ra ngoài để đổi lấy lá xăm coi tốt xấu ra sao?
Lá xăm đỏ nhỏ bằng bàn tay chữ Tàu ngoằn ngoèo in bằng bảng cây nét khắc to nên dễ đọc. Tôi lẩm nhẩm:
Xuân mang bất phóng mã đề loan
Hóa tận phong ba lịch hiểm nan
Trực đãi nhứt thinh thiên báo hiểu
Tự nhiên long đái bửu châu hoàn.
Đọc xong tôi bèn giải nghĩa cho nàng:
– Xăm tốt lắm. Đừng có lo. Nè hai chữ nầy là ‘thượng thượng’ Tiền hung hậu kiết. Qua khỏi Tết nầy là ghe mình đi được. Khi nào em nghe người ta đốt pháo thiệt lớn, thì lúc đó mình có giấy phép để nhổ neo. Yên chí đi, gần hết xui rồi!
Tôi cầm lấy lá xăm, lật qua lật lại, bàn tới bàn lui, cho nàng hay cho tôi? Cũng may đêm giao thừa xin được cây xăm tốt. Tôi mơ màng, hy vọng nay mai cả nhóm sẽ bừng bừng mừng rỡ khi được tin sẽ đi. Tay tôi bồng thằng Bi, tay tôi dắt lấy Duyên đưa cả hai lên trên khoang thuyền, con thuyền thiệt vững chắc, sóng gió êm ả như đi trong hồ, tôi làm cuộc hải hành vượt đại dương để đến bến bình yên. Lòng tôi đâm vui sướng rạt rào. Duyên đi sát bên tôi:
– Anh có nói thiệt không đó? Hay là nói tốt cho em mừng?
Trong bóng đêm tôi thấy mắt nàng mở to chờ dợi.
– Thiệt mà, đâu có gạt em làm chi. Nè em thấy xăm linh không? Ba chữ ‘mã đề loan’ có nghĩa là ngựa dạp móng nhau dính cứng không đi được, cũng y như tình cảnh vướng cẳng vướng chưn của vợ chồng mình. Cuối năm Ngọ cứ tưởng xuống Bạc Liêu vài ngày là đi, nào ngờ đâu cả tháng nay rồi mà không nhúc nhích. Ngựa bị vướng móng làm sao mà chạy được. Như vậy không thể tính chuyện gì được trong năm. Phải chờ sang năm mới.
– Ừ dầu muốn dầu không thì mình cũng đã chờ cho tới mãn năm rồi. Ngủ một giấc nữa là sang năm Mùi.
– Thì chắc rồi, em thấy không, xăm nói thiệt rõ… ‘trực đãi nhứt thinh’ nghĩa là phải đợi tới lúc có một tiếng nổ lớn thì ‘thiên báo hiểu’ tự nhiên trời sáng trưng liền. Cũng y như cái điềm báo mình hết xui xẻo vậy. Em nghe đó, hồi chiều tới giờ, người ta đốt pháo nổ liên hồi phải không? Vậy kể như là trời sáng rồi! Đây nè để anh rán dịch toàn bài cho em nghe:
Xuân tới rối bời ngựa vướng chưn
Sóng gầm gió thét kết rồi tan
Pháo nổ vang lừng trời báo sáng
Tự nhiên rồng ngậm trái châu hoàn.
Duyên đi nép vào tôi vẻ tươi tỉnh hẳn. Tôi cảm thấy hy vọng chợt về trong buổi trời đất giao hòa. Hai bên đường Lý Thường Kiệt dưới những bóng cây đen đen nhòe nhoẹt là những dãy nhà dọc ngang, đèn nến sáng choang, mùi nhang trầm thơm ngát thoảng trong khí trời nửa đêm lành lạnh. Thỉnh thoảng có những tiếng pháo chuột nổ lạch tạch rải rác đâu đây. Tôi cảm thấy có cái gì đổi mới ấm áp như một thứ hy vọng len lỏi trong hồn. Một niềm tin tưởng từ cõi vô thức nào dâng lên no ứ. Mùa Xuân, mùa của hy vọng, của những chồi non nẩy mầm, của sự sống vươn lên. Tôi mở lòng ra chờ đợi tin tưởng.
Bất thình lình trong cái không khí êm ả, nên thơ đó, cả tỉnh Bạc Liêu pháo nổ vang dội. Cả trời lửa đỏ rực trên nền nhung đen thẩm đầy sao lấp lánh. Không khí như bị xé toang ra bằng đủ các loại pháo. Tiếng nhỏ, tiếng to vang rền. Xen vào đó từng loạt đạn lửa bắn cầu vồng, từng loạt hỏa châu phát sáng. Người ta đổ xô ra đầy đường, ngước mặt lên trời để xem. Những viên đạn lửa đỏ rực màu cam bay cách khoảng nhau đều đặn đan thành chiếc lưới đỏ ngang dọc. Từng chiếc dù hỏa châu lơ lửng chói lòa soi sáng một góc trời. Trong ánh sáng chập choạng đám con nít giành nhau chạy lượm những chiếc dù nhỏ sắp rơi xuống đất tạo thành một cảnh hỗn độn mà rất vui. Cứ cách vài phút có tiếng nổ ầm ầm.. thiệt lớn. Tiếng nổ của lựu đạn. Vào những năm về trước cứ đến giờ giao thừa, người dân cũng đốt pháo và những người lính Cộng hòa cũng có bắn súng để vui mừng nhưng in ít mà thôi. Nào ngờ bây giờ pháo đốt nhiều quá, súng bắn nhiều quá, có cả lựu đạn nữa. Trên mặt đường phố người ta tụ nhau quây quần chỗ năm chỗ ba đen nghẹt. Người nào người nấy vui tươi, trang trọng. Nhứt là mấy đứa con nít ồn ào, náo nhiệt, chúng chạy giỡn quăng pháo loạn xạ vào đám đông. Khu vực dành cho dân vượt biên tạm ngụ cũng thấy có người bày bàn thờ ra ngoài sân đủ cả hoa quả nhang đèn, xì xụp cúng vái.
Trong không khí linh thiêng mờ ảo của đèn nhang, tôi thấy cả thời gian không gian ngưng đọng, thấy cả người sống lẫn người chết sinh hoạt cảm thông, liên hệ nhau chặt chẽ. Lảng vảng đâu đây có bóng dáng linh thiêng của quỉ thần.
Duyên dịu dàng thì thầm bên tai:
– Hai vợ chồng mình vừa được thêm một tuổi.
Tôi bước vào ngưỡng cửa. Nàng cũng vừa bồng con đi tới. Tôi ôm chặt cả hai mẹ con vào lòng. Duyên ngước mắt nhìn tôi không nói năng. Bi đã ngủ ngon, nằm gọn lỏn trong vòng tay mẹ. Tội nghiệp thằng bé mới có mười mấy tháng đã tập tành nếm mùi gió sương. Cả bầu trời đầy sao nhưng tôi thấy có hai ngôi sao sáng. Hình như từ ngày cưới cho tới hôm nay tôi chưa hề có một cử chỉ âu yếm hay nói một lời yêu đương dịu dàng với nàng. Như những ngày mới gặp nhau, sân trường Trung học Trịnh Hoài Đức những cây còng bắt đầu thay lá mới, những chiếc lá non xanh mượt nõn nà. Lúc đó tôi đi dạy đã gần mươi năm, những bài giảng hầu như thuộc gần hết, trong khi Duyên lại vừa mới ra trường, ngơ ngác như con chim non mới bắt đầu tập vỗ cánh. Những tưởng cô giáo trẻ phải rụt rè trước một đồng nghiệp già giặn thâm niên hơn nào ngờ chuyện đời lại trái ngược. Mỗi lần gặp nàng ở ngoài hành lang hay trên lối đi đến lớp, tôi đâm luống cuống nói năng không đầu đuôi, tay chưn thừa thải. Khi bình tĩnh lại, tức mình hết sức! Những lần sau vừa thoáng thấy bóng nàng xa xa, tôi rẽ đi lối khác hoặc làm bộ đang mắc bận việc nầy việc kia! Đó là cách hay nhứt để sửa chữa khuyết điểm của mình. Nếu nói năng không khéo léo thì thôi, không nói nữa.
Thò tay mà ngắt ngọn ngò
Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ!
Nhiều khi ngồi nhớ lại cuộc sống vợ chồng, tôi lo lắng chuyện đâu đâu, ít để ý tới vợ con, cho tới hôm nay hình như chưa nói một câu nào nghe cho được. Tôi vốn ít nói lại chậm chạp vụng về.
Hồi lâu tiếng súng tiếng pháo đã từ từ thưa thớt, chỉ còn đôi ba tiếng lụp bụp lẻ tẻ rời rạc. Người đi lại trên đường phố cũng lưa thưa, đêm đen tĩnh mịch trở lại. Trước hiên nhiều nhà chỉ còn leo lét ngọn nến tàn, những đốm nhang đỏ chập chờn trong sương khói. Sau giây phút hớn hở hy vọng vui mừng, trong nỗi trống vắng mênh mông của đêm khuya tỉnh lỵ quạnh hiu, tôi trở về cái tâm trạng hoài nghi, khoắc khoải, mong chờ. Có thiệt không mùa xuân nầy cuộc đời tôi trở nên sáng sủa? Có thiệt không những lời xăm linh nghiệm? Có thiệt không chiếc BL 1648 sẽ được phép nhổ neo?
Nằm bên hai mẹ con đã mê man trong giấc ngủ ngon lành. Từ ngày thương nhau cho đến nay Duyên đã sẵn sàng theo những quyết định của tôi bày ra không một hoài nghi do dự, đắn đo. Trong mỗi bước đi, mỗi cái nắm tay, mỗi ánh mắt nhìn tôi thấy lúc nào nàng cũng dịu dàng chấp nhận.
Chàng đi cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam.
Vậy thì, có thiệt đúng là chuyến đi nầy tôi đưa nàng và con tới bến bờ hạnh phúc? Tôi cảm thấy cái trách nhiệm tinh thần đối với vợ con ngày càng nặng. Đêm giao thừa xa nhà trôi qua trong giấc ngủ mê man, bằng bặc. Lịnh trung ương bao giờ?

Chương 5

PHÁO NỔ BIÊN GIỚI
Khoảng mùng sáu Tết mấy em về Bình Dương và vài gia đình về Sài Gòn ăn Tết cũng đã lục tục trở xuống. Nhà đã đông đúc, ấm cúng trở lại phảng phất đâu đây cái không khí mùa xuân nơi quê cũ. Các đòn bánh tét, đầu heo, tôm khô, củ kiệu ở nhà gởi xuống ăn hết ngay ngày hôm sau. Ăn lại các món quen thuộc gia đình nhứt là bánh tét, nhớ thương má tôi hết sức. Bà đã trên bảy mươi rồi mà vẫn còn bận bịu, lận đận vì con. Bây giờ suốt ngày chờ đợi tin con cháu chừng nào đi được, để yên tâm mà mừng. Ôi! Tình cha mẹ thương con nói sao cho hết. Vẫn chưa có lịnh cho đi.
Bạc Liêu tháng giêng trời nắng gắt, lại ở gần biển nên nhiều gió cát. Đêm đêm giấc ngủ chập chờn, bứt rứt. Cái nóng của thời tiết cộng thêm cái nóng chờ đợi nó làm ai nấy đâm cau có, gắt gỏng. Tôi ngày nào cũng thả rểu ở chợ Bạc Liêu đứng hàng giờ dưới gốc cây sao già xem biểu diễn quảng cáo Sơn đông hoặc đi ăn hàng ở các quán nước. Gần nhà trọ có một nhà hàng cũ bị trưng thu biến thành cửa hàng ăn uống quốc doanh, bán giá chính thức. Một tô hủ tiếu giá một đồng, ba mươi xu một chả giò làm theo lối Tàu, hai mươi lăm xu một chai xá xị ướp đá lạnh. Tụi con nít trong nhà, thằng Lĩnh mập, Chí ròm, Xuân Lan, Trung, Dung là những khách hàng quen thuộc của tiệm nầy. Một ngày tụi nó chạy đi chạy về mua xá xị, nước cam con cọp không biết bao nhiêu bận. Uống hoài nên miệng đứa nào cũng đầy râu xanh, râu đỏ. Tối tối nhiều đứa đái dầm, cả sàn ướt chèm nhẹp, bị mẹ đánh khóc um sùm giữa khuya. Tình trạng chán nản khiến cả đám như tê liệt. Riết rồi không ai buồn nói chuyện như lúc ban đầu, người nào người nấy sầu thảm như thất tình:
Gió thổi hiu hiu Bạc Liêu kia hỡi
Đoạn sầu nầy biết gởi cho ai.
Mãi như vậy cho đến một đêm kia, tôi đương chập chờn trong giấc ngủ muộn màng thì bỗng giựt mình thức giấc vì tiếng loa ở đầu đường oang oang. Bây giờ vào độ sáu giờ sáng có hơn, trời còn tối mù mù, hơi lành lạnh. Mọi người trong mùng còn đương ngủ mê man chưa ai thức. Tiếng loa phóng thanh vang dội từ xa ở phía ngã tư Quốc Tế gần bến xe đò Bạc Liêu. Ngày chưa bắt đầu nên không gian còn tĩnh mịch, tiếng nói rổn rảng của người xướng ngôn viên lặp đi lặp lại rền vang, nghe rõ mồn một:
– Yêu cầu đồng bào đón nghe thông cáo đặc biệt của đồng chí Trường Chinh, chủ tịch Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Giọng nói có vẻ gấp rút không như bình thường. Tôi ngạc nhiên. Cái gì vậy? Mới đánh tư sản năm ngoái, không lẽ năm nay đánh nữa, dân chúng miền Nam còn gì để tụi nó moi? Hay là lịnh đổi tiền? Lịnh trưng thu đất đai nhà cửa? Lịnh động viên, thi hành nghĩa vụ quân sự? Dầu gì đi nữa thì thông báo nầy cũng thiệt kỳ lạ. Mà sao người đọc lại là Trường Chinh? Tên nầy từ ngày bị thất sủng sau vụ cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc cho đến nay không thấy tăm hơi đâu hết, bữa nay lại tự nhiên xuất hiện ngang xương như vầy. Ừ, chắc có đảo chánh ở Hà Nội hay Sài Gòn, nên Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp lặn đâu mất hết trơn. Bộ hết người đọc rồi sao?
Nguồn tin sắp được loan ra khiến tôi hồi hộp hy vọng. Đã mấy năm nay tôi chờ một đổi thay. Đời sống ngày một ngột ngạt bế tắc. Đổi thay kiểu nào cũng được hết. Dầu gì đi nữa thì một cuộc đổi thay cũng cần thiết để đất nước khá hơn một chút. Kể từ năm 1975 đến nay đời sống người dân hai miền trở nên bi đát, tồi tệ. Cả nước đâm thất nghiệp, hàng triệu người bị tù đày, triệu triệu người còn lại vô công rồi nghề, đất đai bị cào xới lung tung không kế hoạch đúng đắn, rừng cây bị chặt phá hỗn loạn, mưa bão lụt lội tràn lan, máy móc xe cộ bị trưng thu để rỉ sét đầy đồng. Năm nào cũng mất mùa thất thu đói kém…
Tôi rán lắng tai. Trường Chinh bắt đầu, giọng gấp rút hốt hoảng nghiêm trọng: “…vào ngày 17 tháng 2 nầy bọn bành trướng xâm lược Trung Quốc với hơn hai mươi sư đoàn bộ binh, hàng ngàn chiến xa và trọng pháo đã ồ ạt xua quân tràn sang biên giới, đánh phá sáu tỉnh miền Bắc. Hàng ngàn cơ sở, nhà máy, trường học, nhà thương bị đốt phá, hàng chục ngàn mẫu ruộng rẫy hoa màu bị hủy hoại… Tuy nhiên quân đội nhân dân anh hùng phản công mạnh mẽ, đồng bào tại các vùng giao tranh kịp thời di tản. Các đội dân quân địa phương đã tổ chức công cuộc bố phòng chống trả. Nơi nơi đều giữ vững vị trí chiến đấu để chờ viện binh…”
À, thì ra đàn anh Trung Cộng đánh đàn em Việt Cộng. Đã từ mấy năm nay tình hình bang giao giữa hai nước càng ngày càng căng thẳng, hôm nay thực sự nổ bùng. Vậy là đồng chí Đặng Tiểu Bình lùn mà vĩ đại dạy cho đồng chí Lê Duẩn kính yêu bài học thứ nhứt. Mấy tỉnh Lào Kay, Cao Bằng, Quảng Yên, Hà Giang, Tuyên Quang bị thiệt hại nặng nề, các hầm mỏ, nhà máy, đường sá, cầu cống bị phá sập, tụi nó đang tiến quân về Hà Nội… Đã thiệt! Ngày nào tình hữu nghị Việt Trung đời đời bền vững, bây giờ thì viếng thăm nhau bằng chiến xa với trọng pháo. Những tưởng đã là đồng chí thì phải vĩnh viễn thương yêu nhau, nhè đâu theo thói thường tình, không còn yêu thương nữa thì ganh ghét căm thù, dang tay đập nhau thẳng cánh:
Bậu ra cho khỏi tay qua
Cái xương bậu nát, cái hoa bậu tàn.
Hà Nội chỉ còn xương chớ làm gì có hoa! Trung Quốc đừng tưởng lầm! Tôi nghĩ lại tình trạng chung của cả đám và riêng tôi. Trung Cộng đánh Việt Cộng. Vậy cần gì phải ra đi? Hà Nội phải thay đổi chính sách. Nếu đất nước có được một sự đổi thay, chỉ cần một chút xíu cho dễ thở thôi, thì cũng không cần đi làm gì. Tôi nghĩ lan man ra cảnh bộ máy của đảng và nhà nước bị dẹp bỏ. Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Văn Tiến Dũng… tất cả bị bắt giam cho đi học tập dài hạn, các vị sĩ quan, công chức quốc gia mình sẽ được tự do, gia đình vợ con đoàn tụ sum vầy, dân chúng vui mừng thoát khỏi cơn ác mộng, làng xóm yên vui thanh bình… Tôi nằm nghiêng trên nền gạch gối đầu trên chiếc ba lô ka-ki xám đen mà tưởng tượng ra đủ cảnh thú vị. Dân chúng Bạc Liêu từ trong các thôn ấp xa vắng đìu hiu, sẽ túa ra đường mừng rỡ reo hò, đường phố xôn xao tấp nập. Người ta tụ năm tụ ba kể cho nhau nghe cuộc thảm bại của các đồng chí răng đen mã tấu với đầy chi tiết hấp dẫn. Rồi tới số phận những kẻ trở cờ ba mươi tháng tư, họ sẽ lúng túng như con chuột trong lồng, không biết chạy trốn nơi đâu. Dân chúng sẽ được tự do thoải mái, nhà nhà mở rộng cửa buôn bán làm ăn. Các trường học vang đầy nụ cười trẻ thơ, dưới sông ghe thuyền xuôi ngược, trên bờ xe cộ lưu thông. Lúc đó tôi dắt vợ, bồng con ra bến xe đò mua vé trở về tỉnh cũ. Tỉnh Bình Dương của tôi vẫn còn y nguyên đó. Trường Trịnh Hoài Đức ấm áp giữa các nương lúa xanh ngát nõn nà. Tôi sẽ nộp đơn xin được đi dạy lại, tiếp tục cuộc sống của đời nhà giáo, tuy nghèo và khiêm tốn nhưng yên vui. Ừ, cứ tưởng là cuộc đời mình sẽ bế tắc, ngờ đâu vẫn còn có lối thoát được. Tôi sẽ gặp lại tất cả những học trò thân yêu, những bạn bè cũ và nhứt là sống quây quần bên những người thân…
Nghĩ lan man tới đây, mừng quá bèn quay qua rối rít lay vợ dậy:
– Em có nghe gì không? Trường Chinh loan báo trên đài phát thanh kìa… Trung Cộng đánh Việt Cộng rồi… còn mấy cây số nữa tụi nó sẽ san bằng Hà Nội!
Duyên trả lời giọng ráo hoảnh, chắc nàng cũng đã lắng nghe từ lâu:
– Có, em cũng nghe từ nãy giờ. Mà nghe rõ lắm. Quân đội Trung Cộng không tiến sâu vô trong lãnh thổ được, họ bị giữ lại ở các tỉnh biên giới. Làm gì mà tới Hà Nội mau vậy?
– Hơi đâu mà em tin ba cái đài phát thanh láo khoét của tụi nó, với xe cộ võ khí tối tân bây giờ, đoạn đường mấy trăm cây số với mấy cây số cũng y như nhau, có khác gì đâu. Tụi Trung Cộng với một tỉ dân số dùng chiến thuật biển người, ai mà chống cự lại cho nổi. Nội cái nước nó phun nước miếng, tụi Hà Nội cũng trôi tuốt ra biển hết, tới lúc đó vợ chồng mình khỏi cần vượt biên chi cho mất công…
– Anh thì nói cái gì nghe cũng dễ ợt. Em không nghĩ như vậy đâu. Chưa chắc gì Trung Cộng đánh thắng được Việt Cộng. Mà nếu như có thắng được, quốc tế đâu có giương mắt nhìn nó chiếm Hà Nội. Còn Nga, Anh, Mỹ, Pháp nữa chi! Họ đâu có ngồi yên ngó cảnh Trung Cộng hưởng lợi. Mà thí dụ Hà Nội thua thật sự đi nữa thì Việt Nam mình cũng không thoát được nạn Cộng sản…
Rồi nàng tiếp tục phân tách:
– Em đồng ý phải có một cuộc đảo chánh hay cách mạng gì đó nhưng phải là người quốc gia mình lãnh đạo, điều đó mới thực sự có tự do, độc lập, thanh bình. Chớ Cộng sản nầy đảo chánh Cộng sản kia thì dầu có đổi thay cũng là đổi từ cái nhà tù nầy sang cái nhà tù khác. Điều mà mình không chấp nhận đâu phải là cá nhơn Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh hay vì Võ Nguyên Giáp… Mấy tên đó chỉ là những vai kép đóng tuồng. Không kép nầy thì bắt kép kia thế vô. Anh nào thì cũng râu rìa mặt mốc. Có cũng được mà không cũng vậy thôi. Cái chánh toàn dân không chấp nhận là chủ nghĩa Cộng sản kìa. Trung Cộng thì có khác gì Việt Cộng đâu, e rằng còn tệ hơn nữa vì tụi nó là ngoại bang.
Đương hy vọng bừng bừng, nghe vợ bình luận đâu đó có lớp có lang, tôi bèn giựt mình tỉnh mộng tiu nghỉu, lòng lạnh tanh như bị tạt một gàu nước:
– Ờ, ờ anh nghe vội nghe vàng rồi nghĩ lung tung. Cái điệu nầy, tụi nó đánh nhau long trời lở đất là vợ chồng mình kẹt cứng. Ai ở không mà cho phép nhổ neo?
– Thì phải chờ nữa, mình chờ đã gần hai tháng rồi, thêm bao lâu nữa cũng phải chịu chớ làm sao bây giờ!
Tôi thở dài ngao ngán:
– Trời, sáu bảy tuần nay đồ đạc bán dần để ăn gần cạn, chờ thêm vài tháng nữa thì đám tụi mình chết khô. Chắc mấy ngàn năm sau, người ta sẽ thấy ở bờ biển Vĩnh Châu bên mấy gốc nhãn già cỗi có mấy trăm tượng đá ngóng cổ ra biển, héo mòn. Anh là tượng hóa đá đầu tiên!
Duyên lồm cồm ngồi dậy vén tóc nhìn ra ngoài:
– Thôi mình thức dậy, trưa trờ trưa trật rồi, sửa soạn đi ăn sáng để nghe có tin tức gì mới. Em thì cho rằng biết đâu nhờ cuộc chiến nầy, người ta sợ người Hoa làm gián điệp, nội tuyến, đuổi họ đi sớm chừng nào hay chừng nấy… Không chừng mình lại có phép khởi hành trong nay mai…
Nghe nàng nói tới đó, trong đầu tôi như có một tia điện xẹt ngang, ngọn lửa hy vọng bùng cháy, tôi chợt nhớ lại câu xăm hôm Tết: “Trực đãi nhứt thinh thiên báo hiểu, tự nhiên long đái bửu châu hoàn.”
– Em nhớ câu xăm đêm giao thừa anh xin đó không? Có tiếng pháo nổ thì trời sáng liền. Bữa đó vợ chồng mình bàn là pháo người ta đốt ăn Tết, không đúng đâu, pháo đó nhỏ lắm ăn thua gì! Anh nghĩ đó là tiếng súng đại bác của tụi Trung Cộng bắn “đùng đùng” vào ải Nam Quan. Cái nầy mới đúng là “trọng pháo!”
Ở bên kia “giường ny lông,” tư Trần Hưng Đạo đã thức tự nãy giờ lắng nghe vợ chồng tôi đối đáp bèn xen vô:
– Bây giờ mà bồ còn kêu là ải Nam Quan. Người ta đã đổi tên nó từ lâu rồi! Đổi từ cái thời tình nghĩa anh em đồng chí Việt Nam – Trung Hoa còn thắm thiết đậm đà. Họ đã ví von cái mối liên hệ mật thiết giữa hai nước bền chặt như môi với răng. Hễ môi hở thì răng lạnh. Vì lẽ đó mà họ đổi tên ải Nam Quan thành ra Hữu Nghị Quan. Nào ngờ mới có vài chục năm mà răng đã cắn môi tới rướm máu. Chắc là tên Hữu Nghị phải đổi nữa để phù hợp với tình thế mới…
Rồi anh tiếp tục bình luận:
– Chuyện chánh trị thiệt là khó hiểu dễ sợ. Vừa thương yêu thắm thiết đó, quay qua quay lại đập nhau bể đầu liền. Mà dầu trong trường hợp nào người ta giải nghĩa nghe cũng xuôi rót. Giải nghĩa xong, thấy chưa đủ còn làm thơ để ca tụng ngâm nga nữa. Trong lịch sử dân tộc chưa bao giờ thấy nền thi ca đất nước phát triển phong phú như vậy. Mỗi cán bộ là một thi sĩ. Lật tờ báo ra chỗ nào cũng toàn là thơ. Để rồi hai ông bà coi, thế nào cũng có hàng chục thi sĩ phùng mang trợn má, xăn tay áo chửi bọn bá quyền nước lớn, bọn bành trướng xâm lược…
Anh bạn nầy là tay buôn bán già đời, vậy mà chuyện chánh trị nghe cũng rành rọt dữ. Chắc là cũng học tập chính sách của Cộng sản sói đầu rồi! Tôi, mấy năm trời sống dưới chế độ bị thất nghiệp ngang xương, không biết làm gì cho hết ngày giờ, nên có dịp nghiền ngẫm khá nhiều sách báo của họ, những người chiến thắng. Điều dễ dàng nhận thấy là người Cộng sản có nhiều thói quen máy móc thành tật. Nhưng có hai thói quen lớn nhứt, từ anh lãnh đạo đầu sỏ đến anh cán bộ tép riu là tánh ưa bàn chuyện chánh trị và thói sính làm thơ. Bất cứ chuyện lớn chuyện nhỏ họ cũng liên hệ một cách tài tình đến chuyện đấu tranh chánh trị được. Cũng vậy bất cứ chuyện gì họ cũng làm thơ được. Từ chuyện anh phi hành gia được Liên Xô cho ngồi ké bay vô vũ trụ tới chuyện chị quét rác không biết đọc biết viết đắc cử dân biểu, từ chuyện đàn bà phá thai theo kế hoạch gia đình đến chuyện bác Hồ chết có con cá rô… nó khóc!
– Anh Tư nè, theo anh vụ Trung Cộng đánh Hà Nội có ảnh hưởng gì đến chuyến đi của tụi mình không?
Tư Trần Hưng Đạo ngồi nhổm dậy bật quẹt đốt thuốc, tay mân mê cái hộp quẹt vàng lóng lánh, suy nghĩ hồi lâu:
– Tôi cũng không biết sao mà nói. Có thể nhờ đó mà đi được, cũng có thể bị dẹp bỏ. Lịnh của mấy thằng ông nội đó ba hồi như vậy, ba hồi như kia biết đâu mà mò. Nhưng có điều tôi cho là nhờ vụ nầy, tụi nó phải quyết định lẹ. Một là cho đi liền, hai là ngưng tức khắc, chớ không thể để cù cưa cù nhầy như mấy tháng vừa qua. Ờ, ờ, tôi quên nói chuyện nầy, tối hôm qua định báo một tin mới nhưng hai ông bà lên chuồng sớm quá nên chưa nói. Chắc là sắp được đi rồi!…
Nghe anh nói tôi bèn tỉnh người liền:
– Sắp được đi rồi hả? Có tin gì hấp dẫn vậy?
– Ghe mình bắt đầu sắp xếp lại tổ chức. Ban đầu người được mướn lái ghe là tài công Hên. Sau đó không biết tại sao Hên đổi qua lái chiếc BL076C, thành ra chiếc của mình thiếu người. Hủ Tiếu phải về Sài Gòn mướn một anh tài công mới, mặt rỗ, đem về mấy ngày nay. Ty Công An hay cơ quan Hỏa Vận gì đó không chịu anh nầy, bắt phải chọn tài công Hốt là em vợ của Hên. Hốt bằng lòng lái chiếc của mình với điều kiện là được đem theo vợ và tiền công là hai mươi lượng vàng. Như vậy là ghe mình có hai tài công chuyên nghiệp. Chắc phải gần đi rồi nên mới chuẩn bị gấp gáp như vậy. Nhưng vấn đề lại đâm ra rắc rối là đào đâu ra số vàng để trả cho tài công Hốt?
– Thì Hủ Tiếu phải lo chớ!
– Hủ Tiếu nói gần hai tháng nay, chạy chọt lo lót đủ các cấp, tiền bạc hết trơn, ai muốn đi thì phải đóng thêm hai chỉ nữa, cho mỗi đầu người!
Tôi buột miệng kêu lên:
– Trời, Hà Nội thì bị Tàu Bắc Kinh dạy cho một bài học, còn tụi mình thì bị Tàu Chợ Lớn làm tiền, chán hết sức, còn đâu nữa mà đóng, đã nghèo lại còn mắc cái eo!
Anh phà một hơi khói thiệt dài rồi nói tiếp:
– Theo tôi đoán thì chắc là đi nội trong tuần nầy. Hôm qua đi lang thang ngoài chợ, chính mắt tôi thấy rõ ràng đám “bạn” ghe của chiếc BL1648 đi mua hàng mấy chục bao củ sắn với chanh tươi. Loại bao ny-lông xanh đựng cát. Đứa nào đứa nấy vác lình kình làng càng xuống bến. Củ sắn với chanh để lâu lắm là một tuần. Hổng lẽ nó mua trước cả tháng? Vả lại nếu không đi được tụi nó mua mấy thứ quỷ đó nhiều quá để làm chi, cho vợ con Hủ Tiếu với Nhựt Bổn ăn à?
Duyên nghe bàn tới đó xen vô:
– Nếu ghe mình đã có lịnh cho đi, tại sao Hủ Tiếu không báo cho anh em mừng để chuẩn bị, ổng giấu cái tin đó làm gì?
– Thiệt ra thì mình cũng đoán mà thôi, chớ chuyện thiệt hư cũng chưa biết ra sao. Việc Hủ Tiếu không báo trước ngày giờ khởi hành có nhiều cái lợi cho “giả.” Một trong những cái lợi trước mắt là mỗi người phải đóng thêm hai chỉ vàng thì mới có tài công để lái ghe. Ai cũng sợ không đi được chớ gì, thôi rán đóng cho xong. Nếu mà nói ra nay mai khởi hành, ai mà thèm đóng nữa. Hai ông bà nghĩ coi có lý không?
Tôi nghe thấy đúng quá, bèn rủ anh đi ăn điểm tâm luôn:
– Ờ, ờ, đúng vậy. Bữa nay mình ăn hủ tiếu ở quán cây dừa nghen. Ra ngoải thế nào mình cũng gặp mấy nhóm đi ghe khác, sáng nào họ cũng tụ tập bàn chuyện vang rân ngoài đó. Có tin gì lạ là biết liền!
Vừa nói tới đó, cánh cửa trước tự nhiên mở hoác, tiếng ken két rợn tai, ánh sáng ban mai rạng rỡ chói lòa vào phòng. Thằng Dân “gì đó” cao lêu khêu, vừa đẩy cửa bước vô, đứng giữa ngạch cửa, mặt mày tươi rói, cười hở chiếc răng vàng.
Tư Trần Hưng Đạo ngồi trong mùng nói chõ ra:
– Thằng quỷ, cả đêm nay mầy ngủ ở đâu mà bây giờ mới mò về nhà?
– Tui qua bên Hủ Tiếu chơi, nghe tụi nó nói chuyện rồi ngủ luôn ở bển gì đó!
Rồi nó nói tiếp, giọng hấp tấp nồng nhiệt:
– Ở bên nầy, có nghe gì đó không?
Tôi mừng thầm trong bụng, chắc là có tin ghe được đi. Suốt đêm nó ở bên Hủ Tiếu mà, làm gì không biết được vài chi tiết hấp dẫn. Nếu Hủ Tiếu có kín miệng thì đám vợ con nó thế nào cũng xì ra, bèn vọt miệng hỏi:
– Sao Dân, bộ ghe mình được giấy phép khởi hành rồi hả?
Cái thằng, thiệt tình, nó không đoái hoài một chút xíu nào hết đến nỗi bồn chồn của tôi, trả lời tỉnh rụi:
– Đâu có, chưa đi mà! Có nghe ai nói gì tới ghe mình đâu. Tôi muốn hỏi bên nầy mấy anh có nghe radio nói vụ Trung Cộng đánh chiếm Hà Nội không?
Rồi không cần chờ ai trả lời, nó nói một hơi như liên thanh bắn, giọng Việt Nam ngọng líu lo, như thấy cuộc chiến rõ ràng xảy ra trước mắt, tay chưn ra dấu quơ lia quơ lịa như đang chỉ huy trận đánh:
– Trời ơi, một triệu quân Tàu Cộng tràn qua biên giới, đạp nát hết gì đó! Mấy chục ngàn xe tăng với súng cà-nông bự lắm bắn “đùng đùng.” Đường sá, cầu cống, nhà máy gì đó cháy tiêu. Máy bay ở phi trường vừa mới bay lên là bị hỏa tiễn bắn rớt xuống như lá rụng gì đó. Chánh phủ Hà Nội sợ quá, tính dọn vô Sài Gòn lấy dinh Độc Lập ở tạm rồi sau đó lựa người thiệt giỏi qua Bắc Kinh năn nỉ lạy lục gì đó. Mà chưa chắc Trung Cộng chịu đâu. Nước Tàu bây giờ mạnh lắm à! Nó chế được bom nguyên tử, còn Hà Nội chưa làm được cây đinh mà!
– Thôi, thôi, thằng ông nội, đi chơi đã rồi về nhà đía cho sướng miệng. Mầy nghe mấy tin tức đó ở đâu? Sao tụi tao cũng có nghe mà đâu có y như vậy. Có mầy chỉ huy thì quân đội Trung Cộng đã ngồi chồm hổm ở lăng bác rồi!
Dân “gì đó” bị Tư Trần Hưng Đạo kê tủ đứng ngang họng bèn cụt hứng, cố vớt vát, đưa tay lên gãi đầu:
– Tui nghe rõ ràng như vậy mà. Đài Bắc Kinh nói hồi tối qua, có Hủ Tiếu với Nhựt Bổn nghe nữa. Hổng tin qua bển hỏi lại coi, tui nói “gì đó” có đúng không?
Cái thằng ba xạo, tưởng có tin gì hấp dẫn rán lắng tai nghe, nhè đâu cái tin cũ xì! Chắc bên nhà Hủ Tiếu, thiên hạ cũng bình luận trận chiến giữa Tàu và Việt dữ lắm, nên coi nó đầy vẻ sôi nổi. Dân “gì đó” nói xong chừng như đã thỏa mãn, vén vạt mùng bước vô trong hai tay dài lêu khêu, cái lưng khòm khòm, đi được vài bước tự nhiên chậm lại:
– Nè nè, mấy anh có biết tin chiếc 076C đã được phép gì đó chưa? Chiều qua nó đã dời đi xuống Cà Mau rồi, không còn đậu ở bến nữa!
Trời ơi, cái thằng mắc dịch, tin hấp dẫn như vậy mà nó coi như không có gì hết, nói nghe tỉnh rụi. Tôi đứng bật dậy vén mùng níu lấy tay nó, lỗ tai lùng bùng, bụng hồi hộp hết sức:
– Sao Dân, chiếc 126C hả, được đi rồi hả? Sao im ru vậy, ở bên nầy không ai hay biết gì hết. Trời ơi, thiệt không? Có nghe chừng nào tới lượt ghe mình?
– Không phải chiếc đó, tôi nói chiếc 076C mà. Còn hai chiếc 126C với 1648 còn ở bến y nguyên gì đó. Tui cà rà theo hỏi Hủ Tiếu, nó cứ lắc đầu nói hổng biết, hổng biết.
Tư Trần Hưng Đạo đứng kế bên hồi nào, dáng điệu hăm hở bộp chộp:
– Chiếc 076C đi xuống Cà Mau rồi hả? Tại sao nó không đi theo ngả Gành Hào, Hộ Phòng? Mầy nói thiệt không đó, tại sao phải xuống Cà Mau kỳ cục vậy?
Vừa hỏi thằng nhỏ tấp tới, anh quay qua rủ tôi:
– Thôi tụi mình rửa mày rửa mặt lẹ lên, đi thẳng ra bến, chun xuống ghe là biết liền. Để ý coi tụi nó chuẩn bị, sửa soạn dầu mỡ, gạo muối, khô mắm…
Đầy nhà vang rân cái điệp khúc ‘chiếc 076C đã đi rồi, chiếc 076C đã đi rồi’ Cái tin nhỏ xíu vậy mà có hiệu quả ghê gớm. Cả bọn đương héo xào ủ rũ như đám rau bị hạn gặp được trận mưa rào, vụt tỉnh dậy hớn hở xôn xao. Nguồn tin được loan truyền từ miệng người nầy sang người kia nhanh như điện xẹt. Căn nhà như tiếp được luồng sinh khí mới bừng bừng sức sống, đám trẻ nít rộn ràng ríu rít, đám người lớn xôn xao tưng bừng.
Cà Mau, cái tỉnh cuối cùng của đất nước, tôi chưa hề đặt chân tới lần nào, bây giờ trở nên quan trọng và hấp dẫn. Tôi tưởng tượng ra một mỏm đất có hình nhọn nhọn cong cong như mỏ chim ó, bùn lầy sình đất đen thui, cây bần, cây đước, cây vẹt, cây tràm với các rễ ló cao lên khỏi mặt nước như hàng triệu triệu cây chông nhọn, trong đó có đầy cá thòi lòi với ba khía bò lổm ngổm. Mùi hương tràm thoang thoảng lẫn mùi bùn sình hôi hám, mùi nước phù sa đục ngầu tanh tưởi, khiến tôi ngây ngất. Bạc Liêu tự nhiên mờ dần trong trí nhớ:
Chờ em anh hết sức chờ
Chờ cho ến xại lên bờ khùi huôi.
(ca dao Bạc Liêu. Tiếng Tiều Châu – Ến xại : rau muống; khùi hui: trổ bông)

Chương 6

CÀ MAU LY RƯỢU GIÃ TỪ
Thế rồi ngày chờ đợi cũng đã đến. Sau bữa cơm, mọi người đang lim dim trong giấc ngủ trưa thì Hủ Tiếu khệ nệ vác cái bụng nước lèo, khệnh khạng đi vào nhà mặt hí hửng báo tin lịnh trung ương đã chánh thức cho phép các ghe của tỉnh Minh Hải khởi hành. Hắn nói:
– Ngày mai, lúc sáu giờ sáng tụi mình đi xuống Cà Mau bằng xe đò, rồi từ Cà Mau mới đi ghe ra biển. Nhớ nghe, đi xuống đó tay không, không được cầm theo gì hết. Hành lý có xe chở đi trước… nhớ sơn tên họ rõ ràng để khỏi lộn.
Như một phát pháo lịnh vừa được châm ngòi, cả nhà bừng bừng vui ngày hội lớn. Một nỗi mừng vụt đến, tôi ngây ngất bàng hoàng. Ghe đã được đi! Ghe đã được đi! Công trình của gần hai tháng trời héo hắt đợi chờ. Tôi nhìn chỗ nào cũng thấy đáng yêu hết sức. Nắng hừng hực giữa trưa, nắng long lanh ngoài ngõ, nắng xôn xao trên những lá rau muống bên kia đường, nắng chói lòa niềm vui. Mọi người lăng xăng dọn dẹp, thu xếp, chuẩn bị. Tư Trần Hưng Đạo đi chợ mua sơn để ghi tên họ trên các bao hành lý, đồ đạc anh đem theo nhiều quá, gần tới cả chục cái xách tay. Anh ngồi trong góc nhà, cầm cây cọ nhỏ chấm vô sơn vàng, cẩn thận viết từng chữ cái.
Tôi nói với anh:
– Anh mua hộp sơn lớn quá, viết có mấy cái xách tay làm sao cho hết!
– Tiệm không còn thứ nhỏ, thôi kệ, miễn có mà viết. Xong rồi, anh em lấy mà dùng khỏi mắc công mua nữa.
Tôi soạn lại xách tay, sắp xếp lại quần áo, cái để mặc đi đường, cái chở theo bằng xe hơi, cùng các đồ dùng cần thiết.
Duyên kế bên cũng rộn ràng:
– Mình phải mua thêm bình nhựa đựng nước đem theo để uống đi đường, cái bình một lít của Bi nhỏ quá không đủ đâu, em cũng phải mua thêm một cái nồi để nấu nướng…
Nghe vợ nhắc tới đó, tôi bỗng nghĩ ra vấn đề than củi:
– Chắc phải mua thêm cây búa để đốn củi, không có nó thì lấy gì chặt cây mà chụm?
Út Trung xen vô bàn:
– Thế nào ghe cũng tấp vào một bờ biển của Thái Lan hay Mã Lai, gặp nhà cửa của người ta mình xin vô ở đỡ nhưng cả ghe mấy trăm người làm sao ở cho đủ, chắc phải giăng lều ở ngoài trời. Vậy nên mua thêm vài cuồn dây nhợ, vải bố căng lều.
Tư Trần Hưng Đạo tiếp:
– Đã mua thì mua luôn cho đủ, mua nhiều nhiều lưỡi câu với dây ny lông để rủi có lọt vô đảo hoang thì cũng câu được cá mà ăn, mua luôn phao để có chìm ghe thì… lội!…
Duyên đi chợ mua về hai bình đựng nước cỡ năm lít. Có mua thêm cốm dẹp, làm thêm thịt cá chà bong. Đường chanh thì đã có làm sẵn ở nhà từ trước. Thấy nàng sửa soạn thức ăn đem theo, trong đó có một kí sữa bột, cả đám đều cười cho là chở củi về rừng vì ở bên đó thiếu gì sữa. Lịnh Công an ban ra là các ghe đậu ở Bạc Liêu sẽ đi xuống Cà Mau chở trước theo những kiện hành lý cồng kềnh. Hành khách đi tay không theo sau bằng xe đò. Vì Việt Cộng nói nên không ai tin, sợ bị gạt. Nếu nó lấy hết các hành lý, không chở theo ghe thì lấy gì mà mặc. Vả lại dầu nhiều hay ít ai cũng có dấu vàng bạc trong các gói xách, trong áo quần để phòng khi cần thì dùng đến, bây giờ phải làm sao?
Đứng nhìn qua bên kia đường tôi thấy hành khách của chiếc 0126C ra đi, ăn mặc dầy cộm như phi hành gia. Mỗi người bận bốn năm cái áo, ba bốn cái quần rồi thêm vào đó áo mưa, áo lạnh, đầu đội nón, tay che dù, cổ quấn khăn, đủ mọi thứ trùm lên đi hết muốn nổi. Trời Bạc Liêu, tháng giêng nắng như đổ lửa mà phải đi vào buổi trưa đứng bóng như vầy, thiệt là khổ hết chỗ nói. Để tránh dân thị xã dòm ngó, từ nhà ra đi từng người một, đến nơi hẹn vắng vẻ có xe đậu sẵn để chở đi Cà Mau.
Cũng may chúng tôi được đi vào lúc sáng, ăn mặc cũng theo kiểu trùm mền nầy nhưng không nóng nực lắm. Đến Cà Mau loay hoay cũng đã trưa. Nghỉ ngơi, ăn uống dọn dẹp chỗ ở tạm thì cũng hết ngày hết giờ. Cả bọn tắm rửa xong thì trời cũng đã về chiều. Tôi chọn một bộ quần áo mới để thay đổi cho tươm tất một chút. Cả ngày đi xe từ Bạc Liêu xuống đây, đầu cổ mình mẩy bụi bặm dơ dáy lôi thôi quá. Dầu gì đi nữa, đây cũng là lần đầu tiên tôi đặt chưn lên cái đất Cà Mau, bê bối lượm thượm thì thiệt là không nên. Nắng đã tắt từ nãy giờ, trời chiều im mát. Đèn đường đã cháy sáng. Hoàng hôn nơi tỉnh lỵ êm ả, trong lành. Mọi hoạt động náo nhiệt ban ngày đã ngừng hẳn, nhường chỗ cho sự nghỉ ngơi, thong thả. Người đi thưa thớt, thỉnh thoảng có vài chiếc xe lôi chầm chậm chạy ngang. Nhìn qua Duyên, nàng cũng mặc cái áo mới có nổi bông xanh, quần dài đen óng ả. Bi áo trắng, quần ngắn có dây tréo sọc đen, hai con mắt láo liêng nhìn mọi nơi ngơ ngác như con vịt nhỏ.
Nơi chúng tôi tạm trú là một ngôi chùa lớn của người Tàu. Giờ nầy trước cổng chánh đã có nhiều gian hàng bán chè, bán cháo đông đầy. Tôi lững thững chậm bước, đứng đợi cả gia đình Tư Trần Hưng Đạo để đi chung cho vui. Ở góc phố nầy tôi có thể nhìn thấy xa xa chợ Cà Mau qua dãy lầu hai từng xưa cũ. Có nhiều căn nhà còn đương cất nửa chừng dở dang. Nhìn trở vào trong tôi quan sát toàn thể ngôi chùa. Đó là một cơ sở nguy nga đồ sộ, kiến trúc bằng bê tông cốt sắt. Nó nằm trên con đường chánh của tỉnh lỵ. Như tất cả chùa miếu của người Trung Hoa, nó được sơn phết rực rỡ bằng toàn một màu đỏ. Mái ngói màu gạch cua cong vút, gạch tường đỏ bầm, nền gạch bông đỏ bóng, từng hàng cột đỏ tươi, mấy hoành phi câu đối cũng đỏ. Chỉ có hàng chữ to nằm vắt ngang chánh điện là sơn đen tuyền, chữ khắc lõm sâu, cứng cáp “Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm.”
Vậy là tôi hiểu lầm rồi. Đây không phải là cái chùa thờ Phật mà là hội quán của những người cư sĩ Trung Hoa. Cách đó chừng một cây số mới là một cái miếu lớn thờ Quan Thánh Đế Quân. Xung quanh cây cối vườn tược xanh tươi, thạnh mậu. Trong hội quán có văn phòng làm việc của ban quản trị, có phòng ốc trú ngụ, cờ xí trống chiên để dọc theo tường la liệt. Đặc biệt có chỗ tắm rửa, vệ sinh thiệt rộng rãi, sạch sẽ. Tuy nhiên vì đám khách trọ hôm nay quá đặc biệt, họ đông gần trên năm trăm người, khách của hai ghe 1648 và 126C cùng ở chung, nên việc vệ sinh lúc nào cũng phải sắp hàng chờ đợi. Nhưng điều đó đâu có quan trọng gì. Ai cũng vui vẻ, thoải mái vì chỉ ở tạm ngày nay thôi, mai nầy lên ghe rồi, dầu cực khổ cách mấy cũng vui.
Tư Trần Hưng Đạo cùng bầu đoàn thê tử vừa ra tới. Cả bọn lũ lượt kéo nhau ra chợ, đi về hướng trái, đoạn đường ngắn lắm chừng độ năm trăm thước. Cà Mau chiều xuống ở vùng ăn nhậu nầy, khung cảnh thiệt là ồn ào náo nhiệt. Đầy đường nam thanh nữ tú dập dìu. Khác hẳn thành phố Sài Gòn ủ rũ buồn rầu, tỉnh lỵ Bình Dương u ám lạnh tanh, chợ Cà Mau, đêm về, không có vẻ gì ảnh hưởng những tác động của thời cuộc. Người dân vẫn rộn rịp sinh hoạt, ăn uống, vui đùa. Hay đó chỉ là bề mặt? Tôi không biết. Tôi chỉ là người khách lạ, ghé tạm qua đây, cũng như hàng ngàn người tới lui tấp nập chiều nay có phải là dân vượt biên bán chánh thức như tôi, cũng không biết nữa. Chỉ biết khi trời vừa sụp tối, chợ Cà Mau bừng sống lại với đủ các loại đèn màu trong các hàng quán ăn uống nhộn nhịp. Những quán bì cuốn, nem nướng, chả giò, bánh hỏi thịt quay, khói bay thơm phức ngào ngạt.
Tư Trần Hưng Đạo níu tay tôi, chỉ vào một sạp bán đồ nhậu:
– Ê bồ, có nghêu sò y như ở khu La Kay Nguyễn Tri Phương, vô làm một bữa cho đã rồi mai lên đường.
Theo tay anh chỉ, tôi thấy người ta bày bán hàng thúng cua lột, những con cua vỏ mềm xèo màu tim tím nằm im lìm không cục cựa, những rổ sò ốc thiệt tươi ngon, những con tôm thẻ phơi khô xỏ cọng dừa dài cỡ hai gang tay, từng xấp khô mực còn đủ râu ria bên cạnh những chai rượu đế trắng bong trong suốt, những chai rượu nếp than đậm như nhung… Tuy trong bụng cũng thèm lắm nhưng nghĩ tới các món đồ biển dễ trúng độc nầy, tôi bèn lắc đầu. Ở nơi xứ lạ quê người, rủi bịnh hoạn rồi làm sao đây. Phía bên kia là dãy hàng quán bán cháo cá bào ngư, cháo thập cẩm. Trên bàn nhiều tô dĩa men sứ trắng bong vẻ màu xanh đỏ chưng đầy các món cao lương mỹ vị, hấp dẫn làm sao. Tôi níu tay anh Tư:
– Thôi tụi mình vào đây, mỗi đứa làm một tô cháo dằn bụng, rồi thủng thẳng tính nữa!
Tư Trần Hưng Đạo không chịu:
– Thôi, hai ông bà thích thì vô đó đi. Tụi tôi qua bên quán đồ nhậu, thử coi Cà Mau với Sài Gòn, chỗ nào ngon hơn!
Tôi bước vô quán, thay vì kêu tô cháo tôi gọi một dĩa mì xào dòn, Duyên, một tô mì vịt tiềm. Xung quanh thực khách ngồi đông nghẹt, người ta ăn uống ồn ào, nói chuyện vang rân. Tôi nghe có tiếng Việt, có tiếng Tàu, tiếng đũa muỗng, tiếng bằm thịt, tiếng nước sôi, tiếng chiên xào, tiếng cười nói… trộn lộn nhau, hòa tan nhau thành một thứ âm thanh hỗn độn náo nhiệt mà thâm tình, rộn ràng sống động mà vui tươi. Trong bụng thấy vui hết sức… Mai nầy mình bước lên ghe, hy vọng cuộc đời sáng sủa!
Anh phổ ky từ bên trong bếp bưng một tay dĩa mì xào, một tay tô mì vịt ngút khói, cẩn thận để xuống bàn. Tôi thấy ngón tay cái của anh ta chấm vô trong tô mì, thiệt là mất vệ sinh, buột miệng cằn nhằn:
– Trời ơi, sao anh lại thọc ngón tay vô trong tô vậy?
Anh ta trả lời gọn bâng, giọng Việt pha Tiều ngọng nghịu:
– Hổng có nóng đâu mà, “ngóa” quen rồi!
Nói xong, anh chùi tay vô quần, quay vô trong bình thản như không có gì phải bận tâm hết. “Ngóa” quen rồi… vậy thì mấy ngàn tô mì, tô cháo ở tiệm nầy đều có ngón tay của anh chàng nhúng vô. Mà ở Cà Mau nầy, có ai vì ăn mì mà bịnh hoạn đâu. Thôi đành! Tôi vừa bực mình vừa buồn cười. Cái thằng cha nầy, thiệt tình, hết nước nói!
Tôi và Duyên bắt đầu ăn. Tô mì xào to hết sức bốc khói nghi ngút, các món thập cẩm gan, lòng, mực, tôm để trên mặt trộn lẫn với vài cọng ngò xanh thiệt khéo léo ngon lành. Tôi rán ăn hết sức vậy mà chỉ hết chừng phần ba. Lúc gần xong, tôi nghe có tiếng nói lào xào bên tai:
– Hà, hà, hai ông bà ngồi tuốt trong nầy im ru bà rù, hèn chi nãy giờ không thấy!
À, thì ra mấy anh bạn người Tàu đi cùng ghe, họ ngồi kế bên hồi nào không hay. Tô Tỷ mặt đỏ gay, A Son xám ngoét, còn Xám Mã Chải thì xanh lè. Anh nào anh nấy áo phạch ngực, điệu bộ đã lừ nhừ. Trên bàn chén dĩa ngổn ngang bề bộn. Trong đám Tô Tỷ là người có học thức, tôi thường nói chuyện với anh ta năm ba câu chuyện văn chương thơ phú Trung Hoa… cho qua ngày giờ. Nhờ đó mà trở nên thân tình.
Xám Mã Chải nhỏ con kéo ghế qua bên, loắt choắt tay rót một ly rượu đế trắng bong, sủi bọt đầy tràn vói qua đưa cho tôi miệng nói:
– Nè, ông bạn uống với anh em tụi tôi một ly để từ giã Cà Mau.
Tôi khoát tay từ chối:
– Cám ơn, cám ơn, nhưng tôi không biết uống rượu. Rủi say rồi làm sao?
Tô Tỷ đứng dậy, dáng lảo đảo tiếp lấy ly trong tay Xám Mã Chải, cầm đưa vào tận miệng tôi, rượu chao mạnh muốn tràn ra ngoài.
– Thôi mà ông thầy giáo ơi, ngày mai tụi mình đi rồi. Rán uống với anh em một ly cho vui. Một ly thôi mà. Hổng uống rồi chừng nào được uống nữa?
Nói xong anh ta thấy tôi có vẻ do dự bèn để ly rượu trở lại bàn, nắm lấy vai tôi lắc lắc:
– Thôi tụi tôi không ép đâu. Để tôi đọc cho nghe một câu thơ Tàu, ông thầy nếu thấy được thì uống cho vui. Rủi có say thì về ngủ, mai mình mới đi mà.
Anh tằng hắng đổi giọng, cái mũi đỏ ửng, mùi rượu nồng nặc:
Huyêl quánh căng chuần dách búi chẩu
Sấy xuyất dườn quál mù cu dành.
Tôi khựng lại, rán lắng nghe. Câu thơ nầy nghe quen quá… quen quá. Phải chi anh đọc theo giọng quan thoại thì dễ hiểu hơn. Tôi lập lại từng âm, từng âm. Phải một hồi lâu mới hiểu được. À, thì ra anh chàng đã đọc hai câu thơ của Vương Duy đời Đường. Tôi đưa tay cầm lấy ly rượu, mắt nhìn sững anh ta. Thiệt tình tôi không ngờ Tô Tỷ đã khéo léo quá chừng, người anh trông cục mịch thô sơ lại đầy tình cảm. Hai câu thơ dùng cho cảnh từ giã Cà Mau tụi tôi chiều nay, thiệt là tuyệt diệu. Duyên níu lấy tay:
– Thôi, anh rán uống một chút cho vui, nhưng đừng uống hết nghe. Nhiều lắm đó.
Tôi đưa ly rượu lên môi, đọc lại âm chữ nho rõ ràng cho nàng
“Khuyến quân cảnh tận nhất bôi tửu, Tây xuất dương quan vô cố nhân.”
Ngày mai nầy tôi sẽ rời Việt Nam, vĩnh viễn để đi về một nơi xa lạ phương trời tây, bạn bè quyến thuộc bỏ lại hết sau lưng, trước mặt là những người không quen biết. Ra nơi biên ải, ai người cố nhơn?
Lòng xúc động bồi hồi, tôi uống một hơi. Tự nhiên không thấy rượu đắng như mọi bận. Cái vị rượu béo béo ngòn ngọt, đặc biệt là nồng thơm hết sức. Tôi uống một hơi dài, rượu tràn vô miệng thấm vào đầu lưỡi, vào tận chơn răng, chảy ngọt ngào qua cuống họng rồi trôi luôn vô bao tử. Ly rượu cạn trơn, tôi nghiêng cho những giọt cuối cùng nhểu xuống hết. Hết trơn, hết thiệt rồi. Tôi để cái ly không trở xuống bàn, lắng nghe một luồng ấm áp từ miệng chạy xuống bụng rồi nghe hơi rượu từ từ bốc lên đầu, nong nóng ở màng tang. Tôi dìu Duyên (hay nàng dìu tôi?) ra khỏi quán, trời đã mát hẳn, đêm chừng đã khuya. Trong ánh đèn chập choạng tôi thấy mấy cục gạch ở dưới chưn tự nhiên nổi lên nổi xuống, kỳ cục quá. Tại sao khi lót mấy người thợ hồ sắp xếp không ngay hàng thẳng lối vậy cà. Bây giờ nó lại lắc lư nữa. Tôi bước theo cục gạch vừa trồi lên, thì cái chưn hụt vô khoảng trống, nghiêng qua một bên, vội chụp lấy vai Duyên. Cả người lảo đảo, biết rượu đã ngấm, miệng vẫn còn nói cứng:
– Uống mới có một ly, rượu cũng không nồng lắm, chắc chưa say đâu. Duyên nè, em có biết ‘dương quan’ là ở đâu không?
– Dạ, dạ, không biết, vịn chắc vô vai em nè, coi chừng té, say rồi đó!
– Để anh giải nghĩa cho nghe. Tây xuất là đi về hướng tây. Muốn dịch chữ nho thì mình phải dịch ngược. Tiếng Việt mình nói thuận, tiếng Tàu nói nghịch. Do đó, em thấy không, nội cái việc phân tách tiếng nói là thấy rõ ràng người mình với người Tàu khác nhau. Vậy mà sử dám viết ông Lạc Long Quân là cháu ba đời của vua Đế Minh ở bên Tàu… Ờ, ờ anh đương nói tới đâu rồi, tây xuất là đi về hướng tây, ở Cà Mau nầy đi về hướng tây thì thế nào cũng đụng Thái Lan hay Mã Lai chớ gì. Vậy thì dương quan là mấy cái xứ đó đó… Thái Lan nè, Mã Lai nè, Nam Dương nè. Mà rủi có bị bão tố giông gió thì trôi tuốt qua Úc cũng vậy. Hổng lẽ dương quan là Ấn Độ, ai mà chèo ghe tới được, xa quá mà. Mai mốt khi tới anh chỉ cho em coi! Người ở mấy nước đó ăn bốc bằng tay. Vậy xứ nào ăn bốc bằng tay thì gọi là dương quan… Đó là mình nói theo phương pháp tam đoạn luận.
Phần vừa phải bồng con vừa bị ghì nặng, phần tôi cứ lải nhải bên tai, nàng bực mình cằn nhằn:
– Uống chi cho nhiều tới say mèm nói hoài nói hủy, mùi rượu đế hôi rình. Về tới chùa rồi kìa, coi chừng vấp cái ngạch cửa!
Nàng vừa nói tới đó, thì chưn tôi đá mạnh vào cây cột ở trước hàng ba, cái đầu may quá nhờ lắc lư nên chưa đụng, cũng may còn vịn kịp nên không té, đau thấu trời xanh nên tỉnh hẳn.
Đêm đó trời không trăng nhưng đầy sao lấp lánh. Một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng… Trong bước đi chếnh choáng, mắt thấy hàng ngàn ngôi sao rớt lên rớt xuống chấp chóa. Bên trong chùa hàng trăm cái mùng nhỏ giăng dọc giăng ngang, không còn một chỗ trống để đặt cái chưn. Tôi rán kìm cho vững cái thân lắc lư mà len theo vợ, loáng thoáng nghe như có tiếng Tư Trần Hưng Đạo nói văng vẳng:
– Cà Mau đã quá, đồ ăn ngon lành mà lại rẻ rề. Phải chi hai tháng trời chờ đợi ở Bạc Liêu mà được ở đây thì sướng nhứt hạng…
Không kịp thay quần áo, mí mắt đã nặng trĩu, đầu óc đặc cứng như chì, tôi vội khoát mùng lăn đùng trên tấm ny lông, ngủ một giấc thẳng cẳng không biết trời trăng mây nước… Thủ Dầu Một, Sài Gòn, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau gì cũng quên tuốt luốt hết. Cũng may là tấm ny lông tôi chùi xuống là giang sơn riêng biệt đã chiếm được hồi trưa, không phải của cô hàng xóm độc thân kế cận:
Gió đưa con buồn ngủ lên bờ
Mùng ai có rộng cho tôi ngủ nhờ một đêm!
Một giờ trưa ngày hôm sau, cả nhóm được hướng dẫn đi từ toán nhỏ xuyên ngang qua chợ để vô những căn nhà bằng cây lợp tôle cất dọc theo bờ kinh Trần Văn Thời. Kinh Trần Văn Thời? Cái tên nầy nghe sao là lạ, tôi chưa từng biết tới. Chắc là tên của một anh hùng liệt sĩ nào đó mới vừa được đặt để ghi công trận trong cuộc chiến vừa qua. Vào giờ nầy chợ vẫn còn đông đúc thành ra khi chúng tôi đi lẫn vào đám đông nếu không tinh ý thì khó mà nhận ra có một nhóm người lạ mặt đang được sắp xếp để xuống ghe. Dãy phố đó có nhiều căn thấp lè tè. Đằng trước các bạn hàng bày bán đủ loại thức ăn cùng vật dụng thiết yếu hàng ngày. Tôi thấy nào dừa, thơm, khoai lang, khoai mì, gạo, khô, quần áo, vải vóc, kim chỉ, đồ mủ nhựa… chất trên từng chiếc sạp cây nhỏ. Khách hàng là các bà nội trợ tay xách nách mang chen lấn nhau.
Tôi dắt Duyên lách vào một căn, cửa chỉ mở hé. Bên trong đã đông người. Nhìn ra là người quen cùng ghe, cũng có vài bộ mặt lạ. Căn phố trống trơn không bàn ghế bếp núc tủ giường. Hình như đây là nhà vựa để chứa hàng hóa. Nhưng hàng hóa đã được lấy đi đâu hết rồi, bây giờ người ta dùng làm địa điểm tập hợp để xuống ghe. Tôi đếm tất cả được trên hai trăm. Gương mặt người nào người nấy căng thẳng nghiêm trọng, không nghe tiếng cười nói hàng ngày. Tư Trần Hưng Đạo đứng bên vách hút thuốc liên miên, mấy đứa con mặc áo phao bằng những miếng mốp dầy may lại. Duyên lột trái quít đưa cho tôi, kề tai thì thầm:
– Rán đừng nói tiếng Việt, có thằng cán bộ Hoa Vận đứng với Nhựt Bổn kiểm soát ở phía cửa sau kìa.
Tôi liếc mắt nhìn ra sau thấy một người đen đủi cao lớn áo sơ mi trắng, quần ka ki xanh bộ đội, chưn mang dép râu, kế bên là Nhựt Bổn. Nhựt Bổn cũng là chủ ghe có phần hùn với Hủ Tiếu. Anh ta người Tàu, mắt hí, đầu sói giống hịch người Nhựt. Gọi hoài nên thành tên. Tôi lắng nghe cả hai nói chuyện. Tên cán bộ nói tiếng Tiều rất giỏi, có lẽ nó là dân đầu gà đít vịt Tiều lai Miên nên đen thui. Cả nhà ai nấy đều lặng thinh nên nghe cả hai nói chuyện nghe lồng lộng. Tô Tỷ đứng kế bên làm thông ngôn và chỉ huy:
– Lần lượt xuống ghe từng gia đình, đi cẩn thận coi chừng lọt xuống sông. Gia đình mấy người thì xuống mấy người, không được nhiều hơn. Ai xuống nhiều hơn thì bị bắt ở lại cả nhà…
Ngoài cửa sau, có ghe nhỏ gắn máy đuôi tôm đậu cặp sát nách. Người ta lần lượt xuống từ từ. Hoàn toàn không điểm danh và sổ sách gì cả. Nhựt Bổn và tên cán bộ chỉ đứng bên cửa ngó theo. Có thằng nhỏ lối xóm độ mười tuổi ở trần đen thui, ốm nhom ốm nhách lòi cả xương sườn xương sống chun vô nhà hồi nào không ai biết, chắp tay sau đít đứng kế bên. Hồi lâu ngó chán nó quay qua hỏi:
– Mấy người nầy lên ghe đi đâu vậy ông?
Anh cán bộ lừ mắt ngó nó vẻ hăm dọa, điều bất ngờ là anh ta bật nói tiếng Việt:
– Đi kinh tế mới đó mầy!
Thằng nhỏ cũng ngon lành, không sợ nghinh lại:
– Ông nói dóc với tui, họ đi vượt biên.
Anh ta quê quá, đuổi nó ra cửa trước.
Tôi đi ra phía sau, thấy dưới ghe người ta đã ngồi gần đầy. Mỗi lần có người bước xuống chiếc ghe chòng chành. Vì toàn là dân thành phố chưa quen sông nước, vả lại quần áo lượt bượt dép giày lôi thôi, nhứt là đàn bà, con gái quần dài áo rộng lao chao lụp chụp. Tới phiên tôi và Duyên. Tôi giành bồng lấy Bi. Duyên vịn vào thành cửa, bước xuống ghe trước. Chiếc ghe chao mạnh. Mấy người ngồi bìa vói tay giữ chặt lấy cột cầu. Nàng chọn lấy một chỗ giữa khoang. Tôi đưa Bi và leo xuống theo ngồi cạnh. Cái xách tay đeo bên vai. Yên chí tôi đưa mắt nhìn lại căn nhà. Nó là một dãy nhà sàn được cất trên những hàng cột tràm đóng sâu trên mặt nước dọc mé sông. Vách sau được đóng ghép những tấm ván dày để ghe tiện cặp vào chuyên chở hàng hóa. Nó vừa là nhà vựa, vừa là cầu tàu. Lúc đó độ hai giờ trưa, nắng chói lung linh mặt nước. Lòng tôi vui như mở hội. Mấy tháng trời chờ đợi chỉ mong được có buổi hôm nay. Tôi nhìn trời, trời sáng trưng, nhìn nước, nước long lanh, nhìn người người nào cũng tươi rói nói cười. Tôi nhìn những cây cừ tràm dưới nhà sàn thấy mực nước đánh dấu bùn sình đen đủi lưng chừng đáng yêu hết sức. Tự dưng cái gì cũng đẹp cũng nên thơ. Cuối cùng rồi cũng đầy khoang. Ghe nổ máy dòn dã chạy ra giữa dòng kinh. Chiếc kế từ đâu không biết chạy kề lại, tiếp tục đón khách xuống. Mỗi chiếc chứa được khoảng ba mươi người, tất cả là bảy chiếc khởi hành tại hông chợ Cà Mau chạy dọc theo kinh Trần Văn Thời. Nước kinh đầy phù sa, lóng lánh ánh mặt trời giữa trưa chói chang. Người ngồi trên ghe dù nón sặc sỡ, quần áo đủ kiểu đủ màu khác hẳn với các ghe địa phương.
Dòng kinh thẳng tắp. Một đoàn ghe bảy chiếc chạy nối đuôi nhau, ở xa nhìn như ghe đám cưới. Trên mặt nước loáng nắng ghe thuyền xuôi ngược đông như mắc cưỡi. Những chiếc ghe chài chở khẳm nặng nề lướt lừ đừ, những chiếc tam bản nhỏ xíu nhẹ nhàng lao vun vút. Dân chúng hai bên bò kinh biết rõ là đoàn ghe đi vượt biên, họ đưa tay chào từ giã, nồng nhiệt. Người trên ghe cũng vẫy tay giã từ. Cái tình đồng bào thiệt thân ái mà vui. Tôi nghe lòng ấm áp. Cảnh biệt ly ở đây không có vẻ gì buồn hết. Người đi thì muốn đi lẹ hơn. Người ở lại cũng nhận thấy ra đi là phải. Có sống dưới chế độ nầy mới hiểu được tại sao người dân lại muốn ra đi rời bỏ quê hương, một điều rất khổ tâm đối với người Việt Nam, một dân tộc có truyền thống bám chặt với quê hương xóm làng. Có nhiều người ngoại quốc họ vẫn chưa hiểu và binh vực Cộng sản. Nhiều khi tôi có ý nghĩ xấu là ước gì quốc gia của họ, một sớm một chiều bị nhuộm đỏ thì sẽ biết ngay lý do tại sao chúng ta, những người vốn yêu mến quê hương đậm đà, lại dứt khoát ra đi như vầy.
Có lẽ vì là lần đầu tiên đi ghe trên kinh rạch nên Duyên nhìn say mê thích thú những cảnh vật xung quanh. Nàng chỉ cho tôi một chiếc ghe hàng, trên khoang chất đầy hàng hóa, phía sau có người đàn bà trọng tuổi nấu cơm, khói bay mịt mù, vài ba đứa con nít mình mẫy đen thui trần truồng chạy giỡn. Bên be có mấy cái lồng gà bằng cây, mấy chậu ớt trái chín đỏ, mấy chậu rau xanh có vài chậu bông thọ đã tàn rụi.
– Anh coi kìa, ngộ quá, cả gia đình sống luôn trên ghe. Chật chội quá hả, rồi làm sao tắm rửa, ăn ở?
– Thì vùng đất nầy ẩm thấp đầy sông rạch, phải di chuyển bằng ghe xuồng. Lo gì chật chội, trên khoang thì đủ chỗ để ăn ở, trên trời thì mây gió trăng nước thiếu gì. Họ sống quanh năm suốt tháng vui vầy, vợ chồng con cái xum họp quanh nhau. Em thấy họ hạnh phúc không, chưa chắc gì mấy người ở thành phố sang trọng, quần áo bảnh bao mà được sung sướng hơn. Em để ý mà coi những câu ca dao dễ thương hồn nhiên mộc mạc thường chỉ xuất hiện nơi thôn dã:
Trời xanh, kinh đỏ, đất xanh
Đĩa bu, muỗi cắn làm anh nhớ nàng.
Duyên thắc mắc:
– Nước ở kinh nầy đục ngầu bùn đất màu cà phê sữa lợt lờ lợ chớ đâu có đỏ?
– Câu ca dao trên xuất hiện vào thời những con kinh miền Nam mình mới được đào. Đất miệt nầy do phù sa sông Cửu Long bồi đắp nên nhiều phèn. Đào kinh để rút hết chất phèn, đất mới mong trồng trọt được. Phèn trong đất gặp mưa chảy vào kinh, mùa nắng nổi lên trên mặt nước, đóng váng đỏ màu gạch cua. Phải chờ một vài mùa mưa nắng phèn mới rút hết ra sông ra biển, nước kinh mới hết đỏ. Hồi xưa đời Chúa Nguyễn, lúc mới khai phá người ta đào kinh bằng tay, đến đời Pháp thuộc đào bằng xáng múc:
Chừng nào xáng Mỹ bung vành
Tàu Tây lủng máy anh mới đành xa em.
– – Thiệt không đó, em thấy tàu bây giờ hư hoài, phải đem vô sở Ba Son để sửa…
– Thì hồi xưa, người mình chất phác thấy cái gì của Tây cũng cho là tốt, không bao giờ hư. Mỹ là Mỹ Tho đó…
Đoàn ghe vẫn lướt phăng phăng trên sóng nước. Qua nhiều xóm làng u tịch, lác đác đây đó vài mái nhà tranh xam xám quạnh hiu bên những bụi chuối tàu lá phất phơ rách tưa vì gió nắng. Mặt đất phẳng lỳ. Mùa nầy đồng ruộng chỉ còn trơ những gốc rạ xám vàng trải dài tới tận chơn trời xanh xanh. Tất cả chìm trong biển nắng, xa vắng mênh mông. Thỉnh thoảng dọc bờ kinh thấy có những trại mộc, đang đóng dở dang nhiều ghe đi biển lớn, khung ghe đều đặn như những chiếc xương sườn loài khủng long thời tiền sử.
Khoảng ba giờ trưa đến Tắc Thủ. Những làng xóm ở đây thường bắt đầu bằng chữ Tắc. Tôi đã đi qua Tắc Vân, Tắc Sậy… Không thấy chợ búa nhà cửa phố xá, chỉ thấy một hàng cây xanh xanh với lau sậy um tùm bên bờ. Có một cái vó cá đặt im lìm bên gốc cây vừng lớn gie ra mặt nước, đầy hoa đỏ hồng hồng rụng vương vải đó đây.
Đoàn ghe từ từ chậm lại rồi tắp vào. Bãi sình lầy lội đen thui. Anh lái ghe nhảy xuống trước, hai chưn lún vô sình đến tận đầu gối bước lần từng bước khó khăn. Cột ghe vào gốc cây xong, anh chạy u lên bờ quơ một ôm rơm rạ rồi lót trên bãi sình. Cả đám lục tục đổ bộ vào trong một gian nhà tranh. Căn nhà ở tuốt sâu bên trong nên khi ngồi dưới ghe thấp không thấy. Nhờ rơm nhiều nên không bị lún mất dép nhưng chưn cẳng lấm lem chèm nhẹp. Quanh nhà có trồng tre, chuối, có ao thả cá, có chuồng nuôi heo. Tôi lững thững bước vô trong, thấy giữa nhà là ảnh Hồ Chí Minh để trên bàn thờ tổ tiên. Trên đó có ba bốn tấm hình thanh niên, kế bên là những giấy chứng nhận liệt sĩ in màu đỏ tươi tương phản với màu xám đen của bàn ghế, tường vách… Chủ nhà là một cán bộ địa phương đã trọng tuổi, dáng khắc khổ gầy gò. Ông ta nhìn chúng tôi soi mói, vẻ lãnh đạm. Tôi bước lách sang bên hông nhà tránh cái nhìn của ông, cẩn thận dè dặt vẫn hơn. Ông bây giờ là kẻ chiến thắng, còn tôi người chiến bại… Nhưng suy nghĩ cho cùng cả hai đều đáng thương như nhau, đều là nạn nhơn của một thứ quyền lực mới. Tất cả mọi người rồi sẽ bị nghiền nát, xóa bỏ trong bộ máy chủ nghĩa khổng lồ.
Ngồi trên một khúc cây mục ở ngoài sân, Tô Tỷ cầm viết ghi tên từng người miệng tía lia:
– Mỗi người đóng hai đồng, nhờ bà chủ nhà nấu cho ăn bữa cơm chiều. Nửa đêm ghe lớn mới tới. Ai ăn thì ghi tên đóng tiền liền.
Trước nhà có sân rộng có tàng cây lớn. Gió từ kinh thổi lên lồng lộng sảng khoái mát mẻ. Bên kia bờ kinh là rừng lau sậy ngút ngàn chạy dài tới tận chơn trời. Mọi người ngồi đứng lăng xăng, có kẻ kiếm chỗ nằm nghỉ mệt. Tôi chọn một chỗ quang đãng, lót cái áo khoác xuống đất để mẹ con ngồi, rồi thả lang thang qua xóm kế bên. Lần theo lối mòn cách đó chừng trăm thước tôi gặp đám hành khách của chiếc 0126 đã ở từ trước. Gặp anh bạn quen kề tai nhắc nhỏ:
– Nếu mầy còn tiền, kiếm bà chủ nhà nhờ luộc cho con gà hoặc con vịt ăn cho đã, tội gì đem theo mà xài không được. Đồ thứ tiền cô hồn!
Buổi ăn chiều gạo mục nát nuốt không vô, đồ ăn hầu như không có. Tôi không nghe đói lắm nên chỉ ăn chừng một chén. Vừa ăn xong trời đương sáng đỏ bỗng sụp tối rất nhanh, mọi vật trở nên đen thui u ám, không thấy được gì hết. Tất cả được phủ trong màn đêm kín bưng. Tự nhiên trong cái đám lào xào đen đủi đó, tôi nghe văng vẳng có tiếng người kêu lớn:
– Ông nào hồi nãy nhờ luộc con gà? Ông nào… nhờ luộc con gà?
À, thì ra bà chủ nhà xách con gà luộc mò mẫm trong đám đông hằng mấy trăm người để kiếm tôi. Khi nhờ bà luộc gà ơ hờ không nói rõ tên họ, thành ra bà phải vừa đi vừa hô lớn. Tôi mừng quá, chạy lại còn bao nhiêu tiền móc hết đưa cho bà. Bà già thiệt dễ thương hết sức, đã luộc dùm con gà thiệt lớn mà còn cho thêm một lon guigoz cháo nóng.
Nhờ con gà nầy mà vợ chồng tôi tỉnh táo sau mấy ngày sóng gió lênh đênh. Hôm đó là ngày gần cuối tháng giêng âm lịch, trời thật trong, không trăng nhưng đầy sao. Tôi lẩn quẩn bên Duyên và mấy đứa em vì sợ lạc. Thỉnh thoảng có tiếng gọi nhau ơi ới. Đâu đây có một hai người đốt thuốc, ánh diêm quẹt lóe sáng lên rồi tắt ngấm. Mùi diêm sinh hôi nồng. Tôi lấy cái áo khoác bận vô vì trời lành lạnh và đàn muỗi đã bay tới tấp. Đêm càng lúc càng khuya. Trời tối đen như bưng lấy mắt. Chỉ nghe có tiếng nói chuyện rì rào, tiếng ho khúc khắc. Trong lòng tôi hồi hộp nhưng đầy phấn khởi, náo nức. Đứng lắng yên bên vợ con tôi nghe tiếng tim đập nhịp nhàng, nghe cả tiếng côn trùng rỉ rả đầy đồng, tiếng gió rào rào qua kẽ lá…
Bỗng nhiên trong cái yên lặng tối đen có tiếng máy ghe nổ từ xa, văng vẳng. Tiếng động cơ càng lúc càng lớn dần. Mọi người trở nên xôn xao, đứng bật dậy. Một chiếc xuồng gắn máy rẽ sóng chở anh cán bộ Hoa Vận hồi trưa đến. Anh cầm cây đèn pin dài ngoằn, tia sáng chiếu loang loáng thiệt xa len vào tận đọt dừa trên cao. Tôi rán nhìn vào chiếc đồng hồ tay của người kế bên. Ánh lân tinh lờ mờ nhưng cũng đủ để thấy gần đúng mười giờ đêm. Tiếng ra lịnh oang oang:
– Một chút nữa ghe lớn tới. Tất cả hành lý xách tay đem theo phải để trên mui, mọi người đi tay không xuống ghe.
Đi tay không xuống ghe? Vậy thì làm sao bây giờ. Trong bóng đêm mù mù tôi mò trong cái xách tay nhỏ lấy ra bàn chải đánh răng, các thứ thuốc, thịt cá chà bông, kẹo đường chanh và vài món lặt vặt cho tất cả vào trong một cái túi nhỏ, sắp xếp thiệt gọn rồi đeo vào cổ. Duyên thì cầm tay bình nước một lít. Tôi dùng dây dù cột chắc xách tay lại để khi ghe lớn đến thì bỏ lên mui cho tiện. Sửa soạn đâu đó vừa xong thì thấy chiếc 0126 lù lù tới rọi đèn sáng hai bên bờ. Cách đó chừng vài trăm thước ở phía sau là chiếc 1648 đèn đuốc sáng rực trên mui, trong khoang. Tiếng máy nổ của hai chiếc ghe lớn gây náo động cả một khúc sông. Bây giờ nơi đây như một phiên chợ đêm họp giữa đồng, ánh sáng mờ ảo tiếng người nói chuyện, tiếng bước chưn lao xao, bóng người di chuyển như những bóng ma chập chờn. Tôi thấy cái gì cũng mông lung huyền ảo. Cảnh thực hay mộng?
Có lịnh xuống ca nô để ra ghe lớn. Người ta chen lấn, giành giựt xô đẩy nhau. Nước kinh nửa đêm chảy nghe cuồn cuộn, tiếng róc rách nghe rõ mồn một. Trời ơi, nếu lỡ trợt chưn lọt xuống sông thì làm sao? Chắc chết quá. Tình trạng thiệt nguy hiểm vì nước chảy quá mạnh. Những ngọn đèn trên ghe lớn phản ánh xuống mặt nước thành hàng trăm con rắn vàng lóng lánh ngoằn ngoèo. Ca nô nhấp nhô dưới lườn ghe theo từng lượn sóng dập dồn. Trên ghe thả xuống một cái thang dây. Từng người leo lên chầm chậm, chiếc thang đong đưa. Tôi giành ẵm lấy Bi, Duyên cầm lấy hai đôi dép chân cố bám xuống sình cho khỏi trợt té. Đoạn đường từ bờ xuống ca nô chỉ chừng năm thước, vậy mà sao thấy thiệt dài. Bùn sình nhão nhoẹt, rơm rạ lót dầy lúc ban chiều, bây giờ bị nước lớn cuốn trôi đâu hết. Loay hoay rồi thì hai đứa cũng leo lên được ghe lớn. Trong khoang đặc nghẹt người ngồi, không còn một chỗ trống. Tôi và Duyên lần mò lên mui, chen lấn mà đi. Chỗ nào cũng chật cứng. Thôi đành ngồi trên boong, chật bó lom khom vì bị cái mui bên trên đè xuống.
Người lên ghe đã hết. Trên ca nô bây giờ chỉ còn có anh cán bộ và người lái. Cả hai khoát tay từ giã. Ghe bắt đầu khởi hành chạy dọc bờ kinh. Đi ngang qua chiếc 0126C thấy nó còn đậu để rước khách. Trời tối đen như mực. Trên ghe có một ngọn đèn pha sáng rực soi về phía trước. Một ngọn đèn pha phụ được rọi dọc theo bờ để tránh các đáy đánh cá. Nhiều quá, các hàng đáy giăng giăng, những cọc tre dựng đứng thẳng trên mặt nước, có treo những ngọn đèn nhỏ xíu lập lòe để làm dấu. Duyên thấy lạ mắt chăm chú nhìn. Nước kinh chảy mạnh, các cột tre đong đưa, ngọn đèn chao qua chao lại.
– Em nghe nói đáy đánh cá hoài, mãi bây giờ mới thấy. Té ra là lưới giăng ngang qua sông để bắt cá.
– Ừ, miệt nầy thiếu gì cá tôm. Chỗ nào có sông rạch thì người ta đóng đáy. Em có biết câu hát nầy không —
Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung,
Anh thương em thảm thiết vô cùng
Biết cha với mẹ có bằng lòng hay không…
– – Trời, câu hát dễ thương quá hả anh!
– Ừ, nói chung thì người dân quê thiệt thà chất phác, thương thì nói thương ghét thì nói ghét. Có điều người mình thường bị ràng buộc bằng đủ mọi lề thói, tập tục, thành kiến… nên tình cảm bị gò bó, không được thoải mái.
Ghe thỉnh thoảng phải ngừng lại để soi cho rõ, rồi tiếp tục lướt êm trong màn đêm. Chừng độ một giờ, ghe ra tới sông Ông Đốc. Sông rộng mênh mông. Vụt một cái nghe nước chảy ào ào, thiệt mạnh. Thỉnh thoảng lại gặp các hàng đáy nữa. Hai bên bờ xa tít mù lờ mờ rừng đước, rừng tràm, lau sậy. Tất cả chìm trong khói sương. Tiếng máy ghe nổ dòn dã đều đều. Tuy thức đã gần suốt đêm, hình như không ai buồn ngủ. Con sông dài quá. Tôi rán hết sức nhìn lên bờ. Chỉ thấy mờ mờ sương khói với những rặng cây đen đen ở chưn trời xa. Rặng cây nầy nối tiếp rặng kia lâu lâu đứt đoạn bằng những con lạch nhỏ. Ghe êm đềm lướt mãi trong màn đêm quạnh hiu lặng lẽ.
Trong cái êm lặng mênh mông tôi nửa mê nửa tỉnh, bỗng thấy Xám Mã Chải ở dưới khoang ghe leo lên boong, tay hắn cầm một cái bao giấy lớn miệng léo nhéo:
– Ai còn tiền dư, xin bỏ vào bao để cho mấy người trên đồn. Mình đi rồi tiền đâu còn xài được nữa.
Thiên hạ người móc túi kẻ móc bóp trút hết số tiền còn lại. Tôi không còn đồng nào, tất cả đã cho bà già luộc gà. Thấy tiền Hồ Chí Minh, nhớ câu nói của anh bạn hồi chiều — đồ thứ tiền cô hồn! Tiền cô hồn thì đem cúng cô hồn, phải quá rồi. Chỉ trong vòng năm ba phút, cái bao căng đầy. Số tiền có thể trên cả trăm ngàn…
Chiếc ghe đang lướt nhanh bỗng từ từ chậm lại rồi ngừng hẳn, tiếng máy vẫn nổ đều đều, êm êm. Trước mặt bây giờ là một căn cứ hải quân. Rải rác ở giữa sông có vài ba chiếc tàu sắt lớn sơn màu xam xám neo đậu im lìm không đèn đuốc. Trên bờ là một căn cứ hải quân biên phòng với một cầu tàu lớn bằng sắt sơn đen. Xung quanh bến có các ghe gắn máy, xuồng đổ bộ. Các ụ súng phòng không với các lô cốt chất đầy bao cát, các ngọn súng chĩa xéo lên trời. Duyên giựt mình tỉnh hẳn, ngó những ngọn đèn vàng vọt trên đồn, khều tôi nói nhỏ:
– Tới trạm hải quân biên phòng, thế nào mình cũng bị xét hỏi.
Tôi lặng thinh hồi hộp. Hủ Tiếu len lách giữa đám người đen nghẹt, tay cầm bao bạc vừa xin được, è ạch vịn vào những ghe tàu đậu sát bên lần vào tới được cầu sắt ở trên rồi đi vô trong. Từ dưới nhìn lên vắng tanh không một bóng người. Trời còn tối lắm nhưng đêm chắc cũng gần tàn. Ghe đã đi gần năm, sáu tiếng đồng hồ rồi. Đoạn đường trên sông Ông Đốc đâu có xa xôi gì, vậy mà chạy gần nửa đêm.
Hủ Tiếu đã lên tới bờ, bóng đã khuất sau cổng đồn. Phải cả giờ sau, mới thấy ông ta đi ra với một cán bộ. Rồi hai người chào từ giã nhau. Hủ Tiếu lại è ạch xuống cầu tàu rồi lần theo be ghe leo lên ghe lớn. Ghe nổ máy lớn hơn, rẽ sóng thẳng ra đại dương. Hoàn toàn không có kiểm soát xét hỏi gì. Tôi thở ra nhẹ nhõm. Trong khoang ghe nhiều tiếng xì xào:
– Ra tới biển, ra tới biển rồi!
Tôi sực nhớ tới vở cải lương có tựa “Thuyền Ra Cửa Biển” của soạn giả Viễn Châu. Rất tiếc là chưa coi nên không biết có cảnh nào giống như cảnh nầy không. Biển cả đối với tôi là cái gì kỳ bí, nhiệm mầu, huyền hoặc. Lúc còn dạy học ở Sóc Trăng, năm Mậu Thân đường bộ bị giựt mìn phá hoại, phải xuống trường bằng đường sông. Từ Cần Thơ đi thẳng ra cửa biển Đại Ngãi, ngang qua Kế Sách để đến Lịch Hội Thượng. Khi gần ra tới biển ghe chòng chành dữ dội, sóng đánh ầm ầm vào hai mạn ghe. Các thanh gỗ, be ghe, sườn ghe vặn mình kêu răng rắc. Nước văng tung tóe. Hành khách phải đóng tất cả các cửa bên hông. Ngồi trong khoang tôi cảm thấy ghe nhào lộn lắc lư như chiếc lá nổi chìm trên sóng nước. Ngoài khung cửa kiếng nhỏ thấy bọt nước tung lên trắng xóa mù trời, chiếc ghe quay cuồng như giữa thác nước lớn. Biển cả còn ở xa tận ngoài kia. Cũng may cũng chỉ chừng năm mười phút chịu đựng ghe tắp vào Đại Ngãi để lên bờ. Đại dương vẫn còn ám ảnh trong trí nhớ.
Bây giờ tôi thực sự được chứng kiến biển cả bao la. Trời thật đẹp. Tiếng sóng đập vào hai bên mạn ghe êm ái làm sao. Biển xanh rờn mênh mông, chỉ thấy trời và nước một màu. Vùng giáp mí giữa sông và biển, nước vẫn phẳng lờ, không một gợn sóng to. Cửa sông Ông Đốc rộng hàng mấy cây số, ở bên nây bờ chỉ thấy thấy bên kia mờ mờ xanh xanh, nước phù sa tuôn ra biển khiến một vùng nước xanh đục lờ lợ. Năm ba cánh chim biển chao mình bay lượn trên không. Trời sáng rờ rỡ. Không khí mát mẻ trong lành. Tôi nhìn qua Duyên thấy Bi đã mở tròn đôi mắt ngơ ngác nhìn quanh. Duyên mỉm cười nhìn tôi:
– Bi ngủ suốt đêm tới giờ mới thức, đâu biết đã rời Việt Nam!
Nghe vợ nói tới bốn chữ “đã rời Việt Nam” tôi vội nhìn ngoái lại:
Đoái trông theo, đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh.
(Chinh phụ ngâm)
Trạm hải quân biên phòng đã mất hút. Bốn bề là trời nước. Bất giác tôi tự thấy tự do đầy sảng khoái. Như con chim vừa thoát khỏi cái lồng chật hẹp, tôi hít mạnh một hơi dài không khí trong lành buổi sáng giữa biển khơi vô đầy hai lá phổi. Tôi sung sướng đưa mắt nhìn quanh. Trên ghe toàn người là người. Nhưng ai nấy đều rạng rỡ hân hoan. Thôi, kể từ nay không còn bị kiểm soát giấy tờ, không cần thuộc lòng bản lý lịch nữa, kể từ nay không còn sợ anh Ba, anh Bảy, chị Tư, chị Tám, kể từ nay chấm dứt nỗi sợ hãi học tập tù đày.
Vĩnh biệt đảng Cộng sản quang vinh. Vĩnh biệt đất nước của những anh hùng liệt sĩ đánh Tây, đánh Nhựt, đánh Mỹ, đánh Tàu và đánh luôn cả những người dân Việt vô tội. Non sông gấm vóc bốn ngàn năm tổ tiên dày công gây dựng, người ta chỉ cai trị trong vài năm nó trở nên tan hoang xơ xác điêu tàn, đâu đâu cũng thấy đói rách lầm than. Người ta đã nhân danh quá nhiều thứ để làm công việc phá hoại chém giết đó. Một trong những tội tày đình là tội độc quyền yêu nước, gạt những người không cùng chính kiến ra ngoài lề xã hội và coi họ là kẻ thù cần phải tiêu diệt. Ôi! Cùng chung một màu da, một tiếng nói, một nguồn cội, một lịch sử vậy mà người ta nỡ đối xử nhau như người dưng nước lã. Hàng ngàn trại học tập khổ sai hoang vu, hàng ngàn nhà giam đầy những cực hình. Cả đất nước là một nhà tù khổng lồ nhốt sáu chục triệu dân nghèo đói thảm thương. Vậy mà những người cầm quyền vẫn chưa sáng mắt, miệng lưỡi lúc nào cũng ca ngợi một thứ chủ nghĩa ngoại lai thiếu nhân tính.
Tôi là một người dân thường, ước ao được sống một cuộc đời tầm thường an phận. Ít ra trong giấc ngủ khỏi phải phập phồng sợ hãi từng tiếng bước chưn, tiếng gõ cửa giữa đêm khuya và biết chắc rằng sáng hôm sau mình vẫn còn bình yên, sống vui vẻ bên vợ con gia đình. Trời sanh tôi có mắt, có tai, có miệng và một trái tim. Nếu mắt không được nhìn, tai không được nghe, miệng không được nói và nhứt là trái tim không được đập theo nhịp yêu thương, hờn giận, vui buồn… thì đó là điều đau khổ nhứt của kiếp người.
Vì vậy tôi phải bỏ xứ mà đi…

(Còn tiếp)

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Nguyễn Du)

Trả lời

Bạn cần phải đăng nhập để gửi bình luận:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s